AI Truyện
Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Gốc gạo đầu đê

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy · Chương 8/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Gốc gạo đầu đê

Người đầu tiên đến gốc gạo đầu đê không phải để họp chợ. Đó là một bà cụ làng Thượng Sậy, gánh hai thúng khoai lang, đi bộ từ lúc gà gáy, định sang chợ Đồng Bến bán lấy tiền mua muối. Đến bến thì không có đò. Bà cụ ngồi bệt xuống gốc gạo, đặt gánh khoai xuống, thở dốc.

Người thứ hai là một ông làng Hạ Sậy, xách một xâu cá diếc bắt được ở ruộng ngập. Ông cũng định sang chợ Đồng Bến. Ông cũng ngồi xuống gốc gạo.

Đến trưa, gốc gạo đầu đê có mười mấy người ngồi, ai cũng có một cái gì đó để bán, ai cũng cần một cái gì đó để mua. Bà cụ có khoai mà cần muối. Ông kia có cá mà cần gạo. Một chị làng Cổ Sậy có rổ trứng vịt mà cần kim chỉ. Họ nhìn nhau, rồi bắt đầu đổi.

Khiêm đứng trên mặt đê nhìn xuống cái cảnh ấy cho đến khi bà cụ đổi xong gánh khoai.

Ở thế giới của anh, người ta gọi đó là "nhu cầu". Ở thế giới này, người ta gọi đó là "chợ".

Chiều hôm ấy anh nói với cụ Thông. Cụ ngồi nghe, nhai trầu, rồi nhổ nước trầu xuống đất.

– Ông lý không ký, ông chánh tổng không cho. Mày họp chợ là họp chợ lậu, mày biết chứ?

– Cháu biết. – Khiêm nói. – Nên cháu không họp chợ.

Cụ Thông nhướng mày.

– Thế mày định làm gì?

– Cụ ơi, cái cống Đìa vỡ, đoạn đê sụt hai mươi sải tay. Phủ đã cho người xuống xem chưa?

– Chưa. Phủ bảo đợi hết mùa lũ mới tính.

– Hết mùa lũ thì đến vụ mùa. Đê không đắp lại thì vụ mùa năm nay cũng chìm. Làng có tiền đắp đê không?

– Không. – Cụ Thông lắc đầu. – Mỗi nhà phải góp công, góp đất. Mà đất đâu ra? Phải mua đất ở gò bên kia, chở bằng thuyền.

– Thế thì cháu xin làng một việc. – Khiêm nói. – Gốc gạo đầu đê là chỗ dân góp đất đắp đê. Ai đến đấy, người làng nào cũng được, góp một sọt đất hoặc một đồng kẽm để mua đất. Góp xong thì ngồi nghỉ dưới gốc gạo. Ngồi nghỉ mà có ai muốn đổi khoai lấy muối, đổi cá lấy gạo, thì làng không cấm.

Cụ Thông há hốc mồm. Rồi cụ phá lên cười, cười đến sặc cả nước trầu, cười đến chảy nước mắt.

– Thằng ranh con. Mày lấy cái đê ra che cái chợ.

– Không phải che, cụ ạ. Đê vỡ thật. Đất phải mua thật. Mỗi đồng kẽm ai góp, cụ giữ, cụ ghi tên, cả làng đều biết. Cháu không giữ một đồng nào.

Cụ Thông ngừng cười. Cụ gõ gõ cái gậy xuống đất.

– Mày bắt tao giữ tiền à?

– Cả làng tin cụ. Không ai tin cháu.

Ba ngày sau, cái gốc gạo đầu đê có một tấm phên nứa dựng đứng, trên đó cụ Thông viết bằng than mấy chữ to: "Chỗ góp đất đắp đê cống Đìa". Dưới gốc gạo có một cái vại sành không, ai góp đồng kẽm thì bỏ vào đấy. Bên cạnh có một cái chòi tre nhỏ, cụ Thông ngồi trong chòi, tay cầm cái gậy, mắt lim dim, trông như đang ngủ mà ai bỏ vào vại bao nhiêu đồng cụ đều biết.

Khiêm cắm cọc tre chia đất dưới gốc gạo thành từng ô, mỗi ô vừa đủ một người ngồi với một cái thúng. Ô gần gốc gạo nhất để cho các bà cụ, vì có bóng mát. Ô gần đường cái để cho người gánh nặng, khỏi phải gánh xa. Ô ở góc có cái giếng thì để cho người bán cá, bán tôm, để tiện rửa. Anh không thu tiền ô, không bắt ai phải ngồi ô nào. Anh chỉ cắm cọc, và người ta tự ngồi vào.

Phiên đầu tiên, đúng ngày mồng một tháng Năm, gốc gạo đầu đê có hơn năm chục người.

Bà Nhỡ ngồi ở ô sát gốc gạo, trước mặt là hai vò tương. Bà không bán theo vò. Bà bán theo bát, như Khiêm đã làm ở bến đò. Con Cốm ngồi ô bên cạnh, trước mặt là mấy tấm vải gai dệt bằng khung cửi thoi bay, vải của nhà dệt riêng sau khi đã đủ phần cho ông Bá. Người ta sờ vải, kéo thử, ngắm đường dệt đều tăm tắp, rồi hỏi nhau: con bé này dệt bằng gì mà nhanh thế, khổ vải rộng thế.

Con Lài ngồi ở ô góc giếng. Đò không chở được, ông Cò Mãi đi đánh cá ở ruộng ngập. Lài mang cá đến bán, cá rô, cá diếc, cá chép con, những con cá theo nước lụt tràn vào đồng giờ mắc lại trong những vũng nước đọng. Thằng Tép chạy khắp chợ, chạy từ ô này sang ô kia, xách nước, gánh hộ, kiếm được mấy đồng kẽm thì đút vào túi, rồi lại chạy.

Khiêm không ngồi ô nào. Anh đi từ đầu chợ đến cuối chợ, xem ai cần gì, ai thiếu gì. Một bà cụ không có cân để cân khoai, anh sang nhà ông Hiu mượn cái cân đòn. Hai ông cãi nhau vì một con gà, anh đứng giữa, nghe hết, rồi bảo cả hai đem gà ra chỗ cụ Thông, cụ phân xử. Một đứa bé lạc mẹ, anh bế nó đi khắp chợ hỏi.

Gần trưa, có một chị làng Hạ Sậy đứng ở ô con Cốm mãi không đi. Chị không mua vải. Chị cứ hỏi đi hỏi lại cái khung cửi.

– Cái thoi bay ấy, ở đâu người ta đóng?

– Ông Hiu đầu làng em. – Cốm nói. – Nhưng ông ấy đóng sai, em sửa lại mất năm đêm.

– Thế em chỉ cho ông ấy đóng đúng, chị đặt một cái. Chị trả ông ấy hai quan, trả em nửa quan công chỉ.

Cốm há miệng ra, rồi ngậm lại, rồi quay sang nhìn Khiêm. Khiêm chỉ nhún vai. Đến chiều hôm ấy, ông Hiu thợ mộc đã nhận được ba lời đặt, và lần đầu tiên trong đời, ông phải hỏi một con bé mười sáu tuổi xem cái máng nên nghiêng bao nhiêu.

Đến trưa, cái vại sành dưới gốc gạo đã có hơn ba trăm đồng kẽm. Cụ Thông ngồi trong chòi, mắt vẫn lim dim, nhưng khóe miệng nhếch lên.

Con Lài bán hết cá lúc mặt trời đứng bóng. Nó rửa tay ở cái giếng, rồi đi đến chỗ Khiêm đang đứng dưới gốc gạo.

– Anh tính cả cái này từ lúc sốt à? – Nó hỏi, tay vẫn còn ướt.

– Không. Anh tính từ cái hôm thấy bà cụ làng Thượng Sậy ngồi ở đây.

– Anh thôi xưng tao rồi đấy. – Lài nói. Rồi nó quay đi, nhưng Khiêm thấy cái răng khểnh của nó lộ ra một thoáng, như hôm trên đò.

Gần chiều, khi chợ đang thưa dần, có tiếng ngựa hí từ phía đường cái.

Ông chánh tổng Khuê cưỡi một con ngựa tía, đi trước. Theo sau ông là bốn người lính lệ cầm roi mây, và Tư Sẹo đi lẽo đẽo cuối cùng, vết sẹo trên má đỏ rực dưới nắng chiều.

Chợ im bặt. Những người còn ngồi bán vội vàng thu dọn thúng mủng. Bà cụ làng Thượng Sậy ôm chặt gánh khoai. Con Cốm đứng dậy, kéo mấy tấm vải ra sau lưng.

Ông chánh tổng xuống ngựa, chắp tay sau lưng, đi một vòng quanh gốc gạo. Ông nhìn những cái cọc tre chia ô, nhìn cái vại sành, nhìn tấm phên nứa viết chữ, rồi dừng lại trước cái chòi của cụ Thông.

– Cụ Thông, cụ già rồi mà còn làm việc này à?

– Bẩm ông chánh tổng, việc gì ạ? – Cụ Thông mở mắt, ngơ ngác.

– Họp chợ lậu. Không có giấy phủ. Không nộp thuế chợ. Theo lệ, chủ chợ lậu phải phạt năm mươi quan, đánh hai mươi roi.

Cả đám đông xì xào. Bà Nhỡ đứng sững bên hai vò tương. Khiêm bước ra.

– Bẩm ông chánh tổng, đây không phải là chợ.

Ông chánh tổng quay lại, nhìn anh từ đầu đến chân.

– Thằng con Sáu Nghiêu. Lại mày. Không phải chợ thì là cái gì?

– Bẩm, đây là chỗ dân góp đất đắp đê cống Đìa. – Khiêm chỉ lên tấm phên nứa. – Đê vỡ hai mươi sải tay, phủ chưa cho người xuống, vụ mùa sắp đến. Dân mười hai làng bên này sông đến đây, ai góp một sọt đất, ai góp một đồng kẽm mua đất. Cụ Thông giữ tiền, ghi tên từng người. Góp xong thì ngồi nghỉ dưới gốc gạo. Ngồi nghỉ mà đổi cho nhau mấy củ khoai, mấy con cá, làng không cấm. Ông cứ hỏi cả làng.

Ông chánh tổng nhìn cái vại sành dưới gốc gạo, đầy những đồng kẽm. Ông nhìn cái tấm phên. Ông nhìn những bộ mặt đang đứng quanh mình, mặt nào cũng đen nhẻm, mặt nào cũng gầy gò sau trận lụt, mặt nào cũng đang nhìn ông.

Tư Sẹo bước lên, ghé tai ông nói gì đó. Ông chánh tổng gật đầu.

– Được. Tao không bắt ai hôm nay. – Ông nói to. – Nhưng chuyện này tao trình lên quan phủ. Quan phủ bảo là chợ thì là chợ, bảo là đê thì là đê. Đến lúc ấy, đứa nào đứng tên, đứa ấy chịu.

Ông lên ngựa, quay đầu đi. Bốn người lính lệ đi theo. Tư Sẹo đi cuối cùng, ngoái lại nhìn hai vò tương của bà Nhỡ, nhếch mép cười.

Đám đông thở phào. Có người vỗ tay. Có người cười. Bà cụ làng Thượng Sậy móc trong túi ra một đồng kẽm, bỏ vào vại sành, rồi gánh khoai lên vai, đi về.

Đêm hôm ấy, lần đầu tiên sau nhiều tháng, cả nhà Nhỡ ăn cơm có cá kho. Con cá chép con Lài để dành lại, kho với tương, thơm lừng cả gian bếp. Thằng Tép ăn ba bát cơm, xoa bụng, nằm lăn ra ổ rơm. Con Cốm đếm tiền bán vải, đếm đi đếm lại ba lần. Bà Nhỡ ngồi bên bếp, nhìn ngọn lửa, khẽ hát một câu hát ru không đầu không cuối.

Khiêm ngồi ngoài hiên, nhìn ra cánh đồng tối om. Bùn đỏ đã khô dần, vết nứt chạy ngang dọc như mạng nhện. Cái cọc tre buộc vải đỏ vẫn cắm ở đầu bờ ruộng, giờ đã nghiêng hẳn vì nước lụt xô. Ruộng ấy bây giờ là của Bá Hàm, nhà anh cấy rẽ. Anh chưa nhổ cọc đi. Anh không biết vì sao.

Sáng hôm sau, lúc trời còn chưa sáng hẳn, có tiếng gọi cửa.

Bà Cả Vân đứng ở cổng, mặt trắng bệch, tóc rối bù.

– Thằng Bấc đâu? Thằng cháu nội tao đau bụng, đi ngoài suốt đêm, nôn thốc nôn tháo. Cả nhà ông Đồ Hanh cũng thế. Hai nhà ở xóm Đông Sậy cũng thế. – Bà nói, giọng run run. – Người ta đang bảo nhau, ai ăn tương nhà bà Nhỡ ở chợ hôm qua thì về đều đau bụng cả.

— Hết chương 8 —

Mục lục Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

  1. 1Cọc tre buộc vải đỏ10 phút đọc
  2. 2Cấy thưa thừa thóc10 phút đọc
  3. 3Nong xôi mốc xanh10 phút đọc
  4. 4Bến đò sông Lành10 phút đọc
  5. 5Con thoi của Cốm10 phút đọc
  6. 6Xanh nhà hơn già đồng9 phút đọc
  7. 7Tờ giao kèo trên mặt đê10 phút đọc
  8. 8Gốc gạo đầu đê9 phút đọc
  9. 9Những hòn sỏi trắng sỏi đen10 phút đọc
  10. 10Phiên chợ ngày chẵn9 phút đọc

Về truyện này

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →