AI Truyện
Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Cấy thưa thừa thóc

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy · Chương 2/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Cấy thưa thừa thóc

Ông Bá Hàm dậy sớm hơn cả gà nhà ông. Lúc Khiêm đứng ở cổng, ông đã ngồi trên cái sập gỗ gụ ở hiên, một tay cầm chén trà, một tay lần chuỗi hạt gỗ, nhìn ra cái ao cá rộng mênh mông còn chìm trong sương.

– Thằng Bấc nhà Sáu Nghiêu đấy à? – Ông hỏi mà không quay đầu. – Tưởng mày chết rồi.

– Dạ, chưa ạ.

– Ừ. Vào đây.

Khiêm đã hình dung ra một lão địa chủ béo tròn, mặt núng nính, giọng the thé như trong phim. Người ngồi trên sập là một ông già ngoài năm mươi, gầy và cao, đôi gò má nhô lên, bộ râu cắt tỉa cẩn thận. Ông mặc một cái áo the đã cũ, sờn ở cổ tay. Trên sập ngoài ấm trà còn một cái bàn tính gỗ và một chồng giấy bản cuộn tròn buộc lạt.

– Mày đến xin cho con em mày ở nhà chứ gì. – Bá Hàm rót cho mình một chén trà nữa, không rót cho khách. – Mẹ mày sai mày đến à?

– Mẹ cháu không biết cháu đến.

– Thế thì mày đến làm gì? Nợ thì không trả được, xin thì tao không cho. Con em mày tự nhận lời, tao không ép.

Khiêm đứng dưới thềm, hai bàn chân trần lạnh cóng trên nền gạch. Cả đêm qua anh đã nghĩ câu này, nhưng lúc nói ra nó vẫn nghe như của người khác.

– Cháu xin ông một vụ chiêm. Cháu cấy lại bốn sào ấy theo cách của cháu. Đến ngày gặt, nếu bốn sào ra được hai mươi thúng thóc, ông gạch nửa nợ và nhổ cái cọc đi. Nếu không ra được, ruộng là của ông, em cháu sang ở nhà ông, cháu sang làm không công cho ông một năm nữa.

Bá Hàm đặt chén trà xuống. Lần đầu tiên ông quay đầu nhìn thẳng vào Khiêm.

– Hai mươi thúng? Bốn sào? – Ông cười, tiếng cười khô khốc như tiếng que gãy. – Ruộng tốt nhất làng này, ruộng của tao, năm được mùa một sào ra bốn thúng là cao. Ruộng nhà mày trũng như cái đáy nồi, chua như giấm, năm ngoái bố mày được có mười một thúng. Mày lấy đâu ra hai mươi?

– Cháu có cách của cháu.

– Cách gì?

Khiêm im. Anh biết nếu nói ra chữ "khoảng cách", chữ "phèn", chữ "ánh sáng", ông già này sẽ chỉ cười to hơn.

Bá Hàm lần hạt chuỗi một lúc. Cái ao cá dần hiện ra trong sương, mặt nước phẳng lì, mấy cái cọc tre cắm lơ thơ để đánh dấu chỗ thả lưới. Bốn sào ruộng nhà Nhỡ nằm ngay sát bờ phía nam của cái ao ấy. Khiêm hiểu ra lời cụ Thông: lấy được bốn sào, ông Bá sẽ có một cái ao rộng gấp rưỡi.

– Thằng này lạ. – Bá Hàm nói, không biết là với ai. – Bố mày nói ít, mày cũng nói ít, nhưng bố mày không bao giờ đánh cược.

Ông gọi vọng vào trong nhà:

– Thằng Lục đâu, lấy giấy bút ra đây.

Tờ giao kèo được viết trên một mảnh giấy bản vàng ố, chữ Nôm nét mảnh, có thêm một đoạn ông Bá tự ghi vào, Khiêm không đọc được nhưng thằng Bấc nhận ra vài chữ. Con Cốm không phải sang ở nhà ông, nhưng ngày ngày phải dệt cho ông ở nhà, sợi ông giao, vải ông thu, tính công như người làm thuê, trừ dần vào nợ. Đến ngày gặt chiêm, gặt trước mặt ông quản và ông lý, đong bằng thúng của nhà ông Bá.

– Thúng của nhà ông ạ? – Khiêm hỏi.

– Mày sợ thúng nhà tao to à? – Bá Hàm cười. – Thúng nhà tao bé hơn thúng chợ đấy. Tao đong thóc cho vay bằng nó, mày cứ hỏi cả làng.

Khiêm điểm chỉ vào tờ giấy. Lúc anh ra đến cổng, Bá Hàm nói với theo:

– Thằng Bấc. Tao không ghét gì nhà mày. Tao chỉ không tin ai trồng được lúa trên cái đáy nồi ấy thôi.

Khi Khiêm về đến nhà thì mặt trời đã lên. Bà Nhỡ đứng ở giữa sân, tay cầm cái chổi rơm, và con Cốm đứng trước mặt bà, mắt đỏ hoe. Có ai đó trong xóm đã kịp nói với bà. Bà nhìn Khiêm, rồi nhìn cái tờ giấy cuộn trong tay anh.

– Mày lại đi làm cái gì nữa đấy?

Khiêm kể. Bà Nhỡ nghe hết, mặt không đổi, rồi bà ném cái chổi xuống sân, đi vào bếp. Một lúc sau có tiếng lửa nổ lép bép, tiếng nồi niêu va nhau.

Con Cốm nhìn anh.

– Anh điên à? Hai mươi thúng?

– Ừ.

– Thế nếu không được thì tôi sang ở ba năm, anh làm thêm một năm, còn ruộng mất. Anh đổi một cái thua lấy ba cái thua.

Khiêm cười. Con bé tính nhanh hơn anh tưởng.

– Còn mày thì đổi được cái gì? Ba năm dệt không công, nhà vẫn nợ một nửa. Ít ra bây giờ mày còn ở nhà ăn cơm với mẹ.

Cốm cắn môi, không cãi nữa.

Việc đầu tiên Khiêm làm là việc làm cả xóm Đìa kéo nhau ra bờ ruộng đứng xem. Anh nhổ lúa lên.

Anh nhổ từng khóm mạ đã cấy được gần tháng, rũ bùn, tách ra. Khóm năm sáu dảnh anh tách làm ba, mỗi phần hai dảnh. Rồi anh cấy lại, thưa ra, khóm nọ cách khóm kia một gang tay rưỡi, hàng nọ cách hàng kia cũng thế. Anh căng một sợi dây gai dọc bờ để cấy cho thẳng hàng, như cách người ta kẻ vở cho trẻ con tập viết.

– Thằng Bấc sốt hỏng đầu thật rồi. – Một bà đứng trên bờ nói to.

– Cấy thưa thế này thì cỏ nó mọc kín, lúa đâu ra mà thấy.

– Lúa nhổ lên cấy lại thì nó lại phải bén rễ, chậm cả tháng chứ đùa à.

Câu cuối là đúng, và Khiêm biết điều đó. Cây lúa nhổ lên rồi sẽ bị sốc, sẽ vàng lá cả tuần, sẽ phải đẻ rễ mới. Anh đang đánh cược rằng một tháng chậm ấy sẽ được trả lại bằng những dảnh đẻ khỏe hơn, bông dài hơn. Đó là những gì sách vở nói. Sách vở chưa bao giờ phải nộp tô cho Bá Hàm.

Thằng Tép lội theo anh, tay ôm một bó mạ, chân lấm đến bẹn.

– Anh ơi, sao phải căng dây?

– Để lúa đứng thẳng hàng, gió thổi vào được, nắng chiếu xuống được tận gốc.

– Lúa cũng thích nắng à?

– Lúa thích nắng hơn mày.

Thằng bé cười khanh khách, ngã nhào xuống bùn.

Buổi trưa, cụ Thông chống gậy ra bờ ruộng, đứng xem hết một miếng trầu. Cụ không cười như những người khác. Cụ chỉ nhìn những hàng mạ thưa thớt, mỗi khóm hai dảnh mảnh khảnh run run trong gió, giữa một khoảng nước rộng.

– Ông bà mình có câu: cấy thưa thừa thóc, cấy dày cóc được ăn. – Cụ nói chậm rãi. – Mày nghe ai nói câu ấy chưa?

– Dạ, cháu có nghe.

– Ờ. Câu ấy là thật. Nhưng ông bà mình nói "thưa" là thưa hơn bây giờ một tí, chứ không phải thưa như cái lược sứt răng thế này. – Cụ chỉ gậy xuống ruộng. – Đất này trũng. Mày cấy hai dảnh, chuột nó cắn một dảnh là còn một. Cua nó cắn nốt là còn cái lỗ.

– Cháu sẽ canh chuột.

– Mày canh được bốn sào một lúc à? – Cụ Thông nhổ nước trầu. – Thôi, việc của mày. Tao già rồi, tao chỉ xem.

Nhưng chiều hôm ấy, lúc Khiêm đang đào một cái rãnh nhỏ dọc theo bờ ruộng thấp nhất, cụ lại ra. Lần này cụ không đứng trên bờ, cụ xắn quần lội xuống, cúi nhìn cái rãnh anh đào.

– Đào cái này làm gì?

– Cho nước chua trong ruộng chảy ra, cụ ạ. Nước đứng lâu thì chua, chua thì lúa vàng lá. Cho nó chảy đi rồi tháo nước mới vào.

– Tháo vào từ đâu?

Khiêm khựng lại. Anh nhìn quanh. Ruộng nhà Nhỡ nằm ở đáy của cái lòng chảo. Nước từ ruộng bên trên chảy xuống đây, nước sông thấm qua chân đê vào đây. Không có nước nào sạch hơn để thay.

Cụ Thông nhìn mặt anh, và lần này thì cụ cười, tiếng cười khò khè như ống bễ thủng.

– Đấy. Mày có cái đầu, nhưng mày chưa có cái chân. Ruộng này muốn thay nước thì phải đợi mưa, phải tát gầu sòng từ cái mương ngoài kia vào, mỗi ngày tát một ít. Mà muốn tát thì phải hai người, một gầu. Nhà mày có ai?

Khiêm nhìn ra phía nhà. Mẹ mắt kém, đi lại trong nhà còn phải lần tay theo vách. Con Cốm phải ngồi khung cửi cho Bá Hàm từ sáng đến tối. Thằng Tép tám tuổi.

– Cháu với thằng Tép.

– Thằng Tép thì cầm được một đầu dây gầu à? – Cụ Thông lắc đầu. – Thôi được. Mai tao bảo thằng cháu nội tao sang tát với mày hai buổi. Không phải tao tin mày đâu. Tao muốn xem mày thua thế nào cho nó rõ.

Mười ngày sau đó là những ngày Khiêm nhớ mãi về sau. Anh dậy từ lúc gà gáy đợt đầu, ra ruộng tát nước với thằng Quý, cháu cụ Thông, một thằng con trai to như con trâu mộng mà ít nói như cái cột đình. Anh vớt bèo tấm ở ao làng về, trộn với tro bếp, với phân trâu xin ở các nhà, ủ thành một đống to ở góc vườn, đậy bằng rơm và bùn ao. Anh không có tiền mua vôi, nên anh xin tro. Tro bếp đun rơm, đun củi, nhà nào cũng có, nhà nào cũng sẵn lòng cho vì nó chỉ là tro. Anh rải tro mỏng xuống ruộng mỗi chiều, rải từng nắm như rắc muối vào nồi canh.

Lúa cấy lại vàng lá đúng như anh biết. Cả tuần đầu những khóm mạ hai dảnh nằm rạp xuống, chóp lá khô cong như râu tôm, và cả xóm Đìa đi ngang bờ ruộng đều lắc đầu. Rồi đến ngày thứ tám, anh lội xuống, nhổ thử một khóm lên xem, và thấy những cái rễ trắng muốt, non tơ mọc ra từ gốc, bám chặt lấy bùn.

Anh đứng giữa ruộng, tay cầm khóm lúa, và lần đầu tiên từ khi tỉnh dậy ở nơi này, anh thấy mình thở được.

Đêm hôm ấy trời đổ mưa.

Mưa đầu mùa đông ở vùng này thường lâm thâm, rắc như sàng bột. Nhưng trận mưa đêm ấy thì khác. Nó dội xuống mái rạ ầm ầm, tràn qua lỗ thủng ở góc bếp, chảy thành dòng trên nền đất. Bà Nhỡ thức dậy kê nồi hứng dột. Thằng Tép ôm chặt lấy chân anh trên ổ rơm.

Khiêm nằm nghe tiếng mưa và nghĩ đến góc ruộng thấp nhất, góc giáp chân đê, chỗ đất trũng như lòng bàn tay úp ngửa. Mấy hôm trước anh vừa cấy lại góc ấy. Những khóm mạ hai dảnh, cây nào cũng chỉ cao đến mắt cá chân.

Anh khoác áo tơi, chạy ra ngõ.

Trời đen kịt. Anh lội ra đến đầu bờ, chỗ cái cọc tre buộc vải đỏ, thì nước đã lên đến bắp chân. Anh dò từng bước về phía góc trũng, tay quờ quạng trong bóng tối, và đến khi anh cúi xuống thọc tay vào nước để tìm khóm lúa, anh phải thọc đến tận khuỷu tay mới chạm được ngọn lá.

— Hết chương 2 —

Mục lục Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

  1. 1Cọc tre buộc vải đỏ8 phút
  2. 2Cấy thưa thừa thóc10 phút đọc
  3. 3Nong xôi mốc xanh10 phút đọc
  4. 4Bến đò sông Lành10 phút đọc
  5. 5Con thoi của Cốm10 phút đọc
  6. 6Xanh nhà hơn già đồng9 phút đọc
  7. 7Tờ giao kèo trên mặt đê10 phút đọc
  8. 8Gốc gạo đầu đê9 phút đọc
  9. 9Những hòn sỏi trắng sỏi đen10 phút đọc
  10. 10Phiên chợ ngày chẵn9 phút đọc

Về truyện này

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →