Chương 4: Bến đò sông Lành
– Anh Bấc gánh cái gì mà nặng thế? Vàng à?
Đứa con gái ngồi ở mũi đò hỏi, tay vẫn cầm mái chèo, chân trần gác lên mạn. Sương sớm tháng Hai còn đặc như khói, mặt sông Lành phẳng như tấm lụa xám, bên kia bờ chỉ thấy lờ mờ một dải tre và mấy mái lều chợ.
Khiêm đặt đôi quang xuống bến. Hai cái vò sành nhỏ, miệng buộc lá chuối, nặng trĩu.
– Tương.
Đứa con gái ngừng cười. Nó nhìn hai cái vò, rồi nhìn anh.
Đó là con Lài, con gái ông Cò Mãi chèo đò thuê cho nhà Bá Hàm. Thằng Bấc biết nó từ bé. Hai đứa từng cùng nhau mò cua ở cái mương sau đình, từng đánh nhau một trận vì một con diều giấy, nó cắn vào tay thằng Bấc một miếng còn hằn sẹo. Từ ngày bố thằng Bấc chết trên chuyến đò của ông Cò Mãi, hai đứa không nói với nhau câu nào.
– Bố tôi ốm, hôm nay tôi chèo. – Lài nói. – Anh có biết ông Tư Sẹo dặn gì không?
– Biết.
– Thế mà anh vẫn gánh.
– Ừ.
Lài nhìn anh thêm một lúc. Rồi nó nhổm dậy, đỡ lấy một đầu quang, đặt cái vò xuống khoang đò, kê cho chắc bằng một bó rơm.
– Anh ngồi giữa. Gánh tương mà ngồi mũi đò thì lật. – Nó nói, rồi im bặt, như vừa lỡ miệng.
Thằng Tép lóc cóc nhảy lên theo, ôm khư khư cái rổ rau muống luộc và mấy cái bát sành. Đó là ý của Khiêm. Bà Nhỡ đã nhìn anh như nhìn một thằng điên khi anh bảo luộc hai bó rau muống mang sang chợ.
Đò rời bến. Ngoài Khiêm và thằng Tép, trên đò còn bốn người đàn bà gánh rau, một ông lão ôm con gà trống. Không ai nói gì, nhưng người nào cũng liếc nhìn hai cái vò.
Giữa dòng, nước chảy mạnh hơn. Lài chèo đều tay, mái chèo khua nước bì bõm. Khiêm ngồi im, nhìn xuống mặt sông đục ngầu, và nghĩ đến cái đòn gánh tre người ta vớt lên năm ngoái.
– Anh sợ à? – Lài hỏi, không quay đầu.
– Không.
– Nói dối. Tay anh bám mạn đò trắng bệch cả ra kia.
Khiêm buông tay ra. Lài khẽ cười, tiếng cười lẫn trong tiếng nước.
Chợ Đồng Bến họp ngay trên bãi bồi bên kia sông, cách bến đò mươi bước chân. Lều chợ lợp lá gồi, kê thành ba dãy. Dãy ngoài cùng bán cá, bán tôm tép, nhộn nhạo tiếng rao, tiếng mặc cả. Dãy giữa bán vải, bán chiếu, bán nồi niêu. Dãy trong cùng bán đồ ăn, bánh đúc, bánh đa, những thúng ốc luộc bốc khói. Mùi cá tanh, mùi rơm khô, mùi khói bếp, mùi người. Ở đầu chợ có một cái chòi tre cao, trên chòi một người đàn ông ngồi vắt vẻo, bên má trái có một vết sẹo dài từ đuôi mắt xuống tận cằm.
Lài đẩy đò áp vào bến, nhưng không cột dây. Nó nhìn Khiêm, hất cằm về phía cái chòi.
– Kia. Ông ấy thấy anh rồi.
Tư Sẹo đã tụt xuống khỏi chòi. Ông ta đi ra bến, theo sau là hai thằng đàn ông vai u thịt bắp. Ông ta không vội, đi như người dạo chợ, tay chắp sau lưng.
– Thằng con Sáu Nghiêu đấy à? – Ông ta dừng lại ở mép nước, nhìn hai cái vò. – Mẹ mày không dặn mày à?
– Dặn rồi ạ.
– Thế thì gánh về đi. Chợ này không bán tương nhà mày.
– Cháu không bán trong chợ.
Tư Sẹo nhíu mày. Khiêm không bước lên bến. Anh đứng dậy, trong khoang đò, cởi lá chuối buộc miệng vò. Mùi tương bốc lên, mùi thơm ngọt, nồng như mật, quyện với mùi đậu rang và cái mặn của muối. Bốn người đàn bà gánh rau còn chưa kịp lên bờ đều quay lại.
– Cháu bán ở đây. – Khiêm nói. – Trên đò. Đò chưa cập bến. Nước sông là nước của vua, không phải của chợ.
Hai thằng đàn ông vai u nhìn Tư Sẹo. Tư Sẹo nhìn cái đò, nhìn con Lài đang giữ mái chèo, rồi nhìn Khiêm. Ông ta cười khẩy.
– Láu cá. Nhưng mày đứng đấy cả ngày thì ai lội xuống mà mua?
Khiêm không đáp. Anh đổ một ít tương ra cái bát sành, bày lên mạn đò cùng rổ rau muống luộc.
– Bà nào, cô nào muốn nếm thì nếm, không mất tiền. – Anh nói to. – Nếm thấy ngon thì mua, không ngon thì thôi.
Ông lão ôm con gà trống là người đầu tiên. Ông lão chưa lên bờ, ngồi ngay trên đò, lấy một cọng rau muống chấm vào bát, đưa lên miệng nhai. Ông nhai rất chậm, rồi nhắm mắt lại.
– Tương Sáu Nghiêu. – Ông lão nói. – Đúng vị Sáu Nghiêu. Tôi ăn tương ông ấy hai mươi năm.
Rồi một người đàn bà gánh rau nếm. Rồi người thứ hai. Rồi có người trên bến đứng nhìn, rồi lội xuống nước đến đầu gối, rồi người nữa. Thằng Tép chạy cuống quýt, tay múc tương ra bát, tay đưa rau. Khiêm không bán cả vò. Anh bán theo bát, một bát tương một đồng kẽm, bát nhỏ, vừa một bữa cơm cho một nhà năm người. Nhà nào muốn ăn thử thì mua một bát, nhà nào đã quen vị thì mua hai, ba bát. Ai mang theo cái ống tre, cái chai, cái lọ sành, anh đổ đầy cho họ.
– Sao không bán cả vò cho nhanh? – Lài hỏi nhỏ, lúc đang giữ đò cho người lội xuống.
– Cả vò thì mấy ai mua nổi. Một bát thì ai cũng mua được. Hôm nay người ta mua một bát, ăn thấy ngon, phiên sau người ta lại tìm.
Lài nghiêng đầu nhìn anh, như nhìn một con cá lạ mắc lưới.
– Ốm một trận mà anh nói năng như ông đồ. – Nó nói. – Ngày trước anh chỉ biết gật với lắc.
– Ngày trước tao có phải bán tương đâu.
– Xưng tao với ai đấy? – Lài nhướng mày, hất cằm về phía bàn tay anh đang đặt trên mạn đò. Trên mu bàn tay ấy có một vết sẹo trắng hình vòng cung, hằn rõ dấu mấy cái răng. – Còn nhớ cái này của ai không?
Khiêm nhìn vết sẹo. Ký ức thằng Bấc trả về một buổi chiều hè, một con diều giấy mắc trên ngọn tre, hai đứa trẻ lăn lộn trong bụi cỏ may.
– Nhớ. Của một con bé răng khểnh, cắn xong còn khóc to hơn người bị cắn.
Lài quay mặt đi, nhưng Khiêm kịp thấy cái răng khểnh ấy lộ ra một thoáng.
Tư Sẹo đứng trên bến suốt buổi sáng, tay chắp sau lưng. Ông ta không cho người lội xuống giật vò. Có lẽ vì có quá nhiều người đứng dưới nước, có lẽ vì ông lão ôm gà là bố của một ông lý làng bên. Ông ta chỉ đứng nhìn, mặt lạnh tanh, thỉnh thoảng nhổ một bãi nước bọt xuống bùn.
Đến gần trưa, vò thứ nhất đã cạn. Vò thứ hai còn quá nửa. Cái túi vải buộc ở thắt lưng Khiêm nặng trĩu tiền kẽm.
Đúng lúc ấy, đám đông trên bến bỗng dạt ra hai bên.
Bá Hàm bước xuống bến. Ông mặc cái áo the cũ, đi đôi guốc mộc, tay vẫn cầm chuỗi hạt gỗ. Thằng Lục quản gia lẽo đẽo theo sau, cầm cái ô vải đen. Tư Sẹo cúi đầu chào, ông không nhìn.
Ông dừng lại ở mép nước, nhìn xuống cái đò, nhìn vò tương, nhìn thằng Tép đang cầm cái muôi gỗ. Cả cái bến im phăng phắc.
– Đưa đây. – Ông nói.
Thằng Tép không hiểu. Khiêm đổ một ít tương ra bát, nhặt một cọng rau muống, lội lên bậc bến, đưa cho ông.
Bá Hàm cầm cọng rau, chấm vào tương, đưa lên miệng. Ông nhai. Ông nhai lâu đến mức thằng Lục phải nghiêng ô che cho ông. Khiêm nhìn thấy những ngón tay đang lần chuỗi hạt của ông dừng lại. Ông nhắm mắt.
– Vợ Sáu Nghiêu làm à?
– Dạ, mẹ cháu.
– Ừ. – Bá Hàm mở mắt. Ông trả cái bát lại cho Khiêm. Tay ông khẽ run, rất khẽ, đến mức nếu không đứng sát thì không thấy. – Thằng con tao ngày trước sáng nào cũng ăn cơm nắm chấm tương nhà mày.
Ông nói câu ấy bằng một giọng không lên không xuống, như nói chuyện trời mưa. Rồi ông quay sang Tư Sẹo.
– Bao nhiêu một vò?
Tư Sẹo lúng túng.
– Dạ… ngày trước Sáu Nghiêu bán tám tiền một vò lớn.
Bá Hàm quay lại nhìn Khiêm.
– Từ nay tương nhà mày làm ra bao nhiêu, tao mua cả. Năm tiền một vò lớn, trả ngay, khỏi phải gánh qua sông, khỏi phải đứng dưới nước bán từng bát cho mệt. Tao bán trong chợ tao.
Khiêm nhìn ông. Năm tiền một vò, trả ngay. Không phải sang sông. Không phải lo Tư Sẹo. Với cái túi tiền kẽm đang đeo ở thắt lưng, với cái mắt kém của mẹ, với món nợ sáu quan, đó là một lời đề nghị mà thằng Bấc của năm ngoái sẽ vồ lấy ngay.
Nhưng Khiêm đã đứng dưới nước cả buổi sáng, đã thấy ông lão ôm gà nhắm mắt lại khi nếm, đã thấy những người đàn bà lội nước đến tận gối để mua một bát tương một đồng. Năm tiền một vò lớn mà trong vò ấy múc ra được hơn hai chục bát.
Và anh biết, nếu nhà Nhỡ bán cả cho Bá Hàm, tương nhà Nhỡ sẽ trở thành tương nhà Bá Hàm. Người ta sẽ quên cái tên Sáu Nghiêu, như người ta quên một con đò đã chìm.
– Cháu cảm ơn ông. – Anh nói. – Nhưng nhà cháu muốn tự bán.
Không ai trên bến nói gì. Thằng Lục quản gia há hốc mồm. Tư Sẹo nhếch mép.
Bá Hàm không giận. Ông chỉ gật đầu, chậm rãi, như người vừa tính xong một bài toán.
– Ừ. Tự bán. – Ông nói. – Thế thì tự mà sang sông.
Ông quay người, đi ngược lên bến. Thằng Lục vội vàng che ô chạy theo. Đám đông dạt ra rồi khép lại, tiếng chợ lại nổi lên như chưa từng tắt.
Khiêm bán hết vò thứ hai lúc mặt trời đứng bóng. Thằng Tép mệt lả, ngồi bệt dưới khoang đò, hai tay ôm cái rổ rau trống không, miệng toe toét. Lài đẩy đò rời bến, chèo ngược về bờ bên này.
Lúc đò còn cách bờ mươi sải chèo, Khiêm thấy một người đàn ông đứng chờ sẵn ở bến làng Trũng Sậy. Người ấy gầy gò, lưng hơi còng, ho khục khặc. Đó là ông Cò Mãi, bố con Lài, người đã chèo chuyến đò lật năm ngoái.
Lài cập đò. Ông Cò Mãi không đỡ dây. Ông nhìn con gái, rồi nhìn Khiêm, rồi nhìn xuống hai cái vò trống không trong khoang.
– Thằng Lục vừa bơi thuyền nan sang trước báo. – Ông nói, giọng khàn đặc. – Ông Bá dặn, từ mai đò này không chở người nhà bà Nhỡ nữa. Ai chở, ông ấy lấy đò lại.
— Hết chương 4 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe