Chương 1: Cọc tre buộc vải đỏ
Cái cọc tre cắm xuống bờ ruộng lúc mặt trời còn chưa lên khỏi lũy tre, và người cắm nó buộc lên đầu cọc một dải vải đỏ, thắt hai vòng cho chắc.
– Đến ngày gặt chiêm, cọc này nhổ đi hay đóng sâu thêm là tùy nhà bà. – Người ấy nói, tay phủi đất ở gấu quần.
Khiêm nghe câu ấy qua một cái phên nứa thủng, nằm trên một cái chõng tre ọp ẹp, người nóng hầm hập, cổ họng khô như vừa nuốt một nắm trấu. Anh không biết mình đang ở đâu. Anh chỉ biết lần cuối cùng anh còn tỉnh táo, anh đang đứng trên con đê sau trường cấp ba ở Ninh Bình, nước lũ vỗ vào chân đê ì oạp, một đứa học trò lớp mười một trượt chân, và anh nhào theo nắm lấy cổ áo nó.
Còn bây giờ thì có mùi khói rơm, mùi bùn, mùi cám lợn chua, và tiếng một người đàn bà van xin ngoài sân.
– Ông quản thương cho, nhà tôi còn có bốn sào ấy thôi. Ông nói với ông Bá cho thêm một vụ nữa.
– Bà Nhỡ ạ, ông Bá cho thêm hai vụ rồi. Sáu quan tiền, bốn thúng thóc, lãi chưa tính. Nhà bà lấy gì mà trả? Thằng Bấc thì sốt nằm bẹp ba hôm nay, có khi không qua nổi.
Có tiếng bước chân đi xa dần, tiếng một con chó sủa hai tiếng rồi thôi. Người đàn bà đứng ngoài sân, lâu đến mức Khiêm tưởng bà đã đi. Rồi bà đi vào, cúi đầu qua cái cửa liếp thấp, và Khiêm nhìn thấy một khuôn mặt ngoài bốn mươi, đen và gầy, đôi mắt đỏ quạch, lúc nào cũng nheo nheo như đang nhìn qua một làn khói.
– Mày tỉnh rồi à? – Bà nói, giọng không vui cũng không mừng. – Tỉnh thì dậy húp bát cháo.
Khiêm mở miệng định hỏi bà là ai. Câu hỏi không ra khỏi họng. Thứ đầu tiên anh nói được, bằng một giọng khàn khàn trẻ hơn giọng anh hai chục tuổi, là một tiếng:
– Mẹ.
Bà dừng tay, nhìn anh một lúc, rồi quay đi múc cháo.
Phải mất gần trọn buổi sáng ấy Khiêm mới gom được những mảnh vỡ trong đầu thành một câu chuyện ra hồn. Thân xác anh đang nằm là của một thằng con trai mười chín tuổi tên Bấc, gọi thế vì hồi bé gầy và nhẹ như sợi bấc đèn. Làng này tên là Trũng Sậy, nằm trong một cái lòng chảo ruộng thấp ven sông Lành, thuộc phủ Lạc Điền. Năm nay là năm Thuận Hòa thứ mười một. Anh dạy môn Sinh mười lăm năm, đọc sử Việt không ít, nhưng chưa từng nghe tên một triều đại nào có niên hiệu ấy. Ký ức của thằng Bấc thì không trả lời câu hỏi đó. Nó chỉ biết vua ở kinh, quan ở phủ, ông lý ở đình, và ông Bá Hàm ở cái nhà ngói năm gian bên kia gò.
Nó còn biết một chuyện nữa, và chuyện ấy làm Khiêm nằm yên rất lâu, nhìn lên mái rạ đen bồ hóng. Bố nó, ông Sáu Nghiêu, chết đuối năm ngoái, giữa sông Lành, trên chuyến đò của nhà Bá Hàm.
Trên xà nhà, chỗ tối nhất ngay trên bếp, có treo một cái hũ sành nhỏ, miệng bọc lá khô buộc dây gai. Ký ức của thằng Bấc dừng ở cái hũ ấy như con trâu dừng ở chỗ nước sâu: nó biết đó là hũ gì, và nó biết không được hỏi.
Đến trưa thì Khiêm ngồi dậy được. Anh bước ra sân, chân run như đi trên cầu khỉ. Sân đất nện, góc sân có cây cau lùn, một cái chuồng lợn trống, một cái giếng khơi thành đắp đất. Ngoài ngõ là ruộng. Ruộng chạy tít tận chân đê, nước lấp xấp, mạ chiêm còn non xanh như rêu. Ở đầu bờ ruộng gần nhất, cái cọc tre buộc vải đỏ cắm nghiêng nghiêng, dải vải phất phơ trong gió bấc.
Một đứa con gái đang ngồi giặt ở bờ ao, nghe tiếng động thì quay lại. Mười lăm, mười sáu tuổi, mặt tròn, đôi lông mày rậm như hai nét mực.
– Anh dậy làm gì? Vào nằm đi, ngã ra đấy tôi không khiêng nổi đâu.
Đó là con Cốm, em gái thằng Bấc. Khiêm biết điều đó trước khi kịp nghĩ, như người ta biết mặt người nhà mình trong bóng tối.
– Cái cọc ấy là sao? – Anh hỏi.
Cốm nhìn anh như nhìn một thằng ngốc.
– Sốt mất cả trí à? Cọc của ông Bá. Ông ấy cắm cho cả làng biết ruộng này sắp là của ông ấy. – Nó vắt cái áo, nước chảy ròng ròng xuống mu bàn chân. – Mà cũng chưa chắc đâu. Ông ấy bảo nếu tôi sang ở nhà ông ấy ba năm dệt vải không công thì ông ấy gạch nửa số nợ. Tôi bảo được.
– Mày bảo được?
– Thì bảo được. – Nó nói, giọng phẳng lặng như người ta bảo được bán con gà. – Mồng mười tôi sang. Còn ba hôm nữa. Mẹ chưa biết đâu, anh đừng có nói.
Khiêm đứng giữa sân. Ở cái thế giới anh vừa rời đi, anh có một đứa con gái mười bốn tuổi đang học lớp tám, cuối tuần nào cũng đòi đi trà sữa với bạn. Anh nhìn con bé trước mặt, hai bàn tay nứt nẻ vì nước ao mùa đông, móng tay đen vì nhuộm vải, và không nói được gì.
Chiều hôm ấy anh đi một vòng quanh bốn sào ruộng. Anh đi chậm, ngồi xổm xuống bờ, thọc tay xuống bùn, bóp thử, ngửi thử. Đất dẻo quánh và chua, mùi chua của đất phèn trũng lâu ngày không được phơi ải. Nước trong ruộng màu gỉ sắt, trên mặt nước váng một lớp ánh xanh ánh tím như dầu loang. Mạ cấy dày đặc, năm sáu dảnh một khóm, khóm nọ sát khóm kia, lá vàng ở chóp. Anh đếm thử trên một khoảng bằng hai sải tay: hơn bốn chục khóm.
Mười lăm năm đứng lớp, anh đã giảng không biết bao nhiêu lần về đất chua, về lân, về vôi, về khoảng cách cấy, về chuyện cây lúa cần ánh sáng chiếu tới gốc. Anh giảng trên bảng đen, có tranh minh họa, có đề cương. Chưa lần nào anh đứng trong một thửa ruộng mà biết rằng nếu nó thất bát thì một đứa con gái mười sáu tuổi sẽ đi ở đợ ba năm.
– Ruộng nhà mày năm nào cũng thế à? – Một giọng già khàn khàn vang lên sau lưng anh.
Một ông lão râu lưa thưa, lưng còng, chống cái gậy tre, đứng trên bờ ruộng bên cạnh. Ký ức thằng Bấc gọi tên ông lên ngay: cụ Thông, người già nhất xóm Đìa, ngồi chiếu trên ở đình, nói câu nào cả xóm nghe câu ấy.
– Dạ, năm nào cũng thế ạ. – Khiêm đáp. – Cháu nghĩ là tại cấy dày quá.
Cụ Thông nhướng lông mày, nhìn anh từ đầu xuống chân.
– Thằng Bấc mà cũng biết nghĩ cơ à? Ốm một trận khôn ra được tí nào hay đấy. – Cụ nhổ một bãi nước trầu xuống ruộng. – Ruộng trũng thì phải cấy dày, chuột nó ăn, cua nó cắn, nước nó dìm, chết chỗ này còn chỗ kia. Bố mày cấy dày, ông mày cấy dày. Mày định cấy thưa để chuột nó ăn sạch à?
– Cấy dày thì cây tranh nhau ăn, cụ ạ. Không đứa nào lớn nổi.
– Ờ, thế cũng phải. – Cụ Thông gật gù, rồi đổi giọng. – Nhưng mày bảo với cái lão Bá Hàm như thế thử xem. Lão ấy chả cần lúa nhà mày lớn hay nhỏ. Lão cần bốn sào này liền với cái ao cá của lão thôi.
Cụ chống gậy đi. Được dăm bước thì cụ quay lại.
– Tao nói cho mà biết. Con Cốm nhà mày nhận lời sang nhà lão rồi đấy. Cả xóm biết, chỉ mẹ mày là chưa biết.
Tối hôm ấy nhà chỉ có một nồi cháo loãng nấu với rau má và một bát mắm tép. Thằng Tép, em út, tám tuổi, ăn ba bát liền, húp sùm sụp, rồi lăn ra ngủ trên ổ rơm. Bà Nhỡ ngồi vá áo bên ngọn đèn dầu lạc, khâu một mũi lại phải đưa sát lên mắt. Cốm ngồi cuốn sợi, quay cái xa kêu lách cách.
Khiêm nhìn lên cái hũ trên xà nhà.
– Mẹ, cái hũ ấy là mốc tương phải không?
Tiếng xa của Cốm ngừng bặt.
Bà Nhỡ không ngẩng lên. Cây kim trong tay bà đâm xuống vải, kéo lên, đâm xuống.
– Đừng có động vào nó.
– Bố ngày trước làm tương bán khắp vùng. Ai cũng bảo tương bố làm ngon nhất phủ. Nhà mình còn mốc giống, còn cái nong, còn hai cái vại. Nếu mình làm lại…
– Tao bảo đừng có động vào nó.
Bà đặt cái áo xuống. Ngọn đèn lắc lư, bóng bà đổ dài lên vách đất. Lúc bà nói tiếp, giọng bà không to, nhưng rõ từng chữ một.
– Bố mày gánh hai vại tương sang chợ Đồng Bến, đò lật, bố mày chìm, hai vại tương cũng chìm. Người ta vớt được cái đòn gánh, không vớt được bố mày. Tương nhà này làm ra để làm gì? Để bán cho ai? Chợ Đồng Bến là chợ của lão Bá Hàm, đò sang sông là đò của lão Bá Hàm. Mày làm tương rồi mày bơi sang mà bán à?
Cốm cúi gằm xuống cái xa. Ngoài vườn, gió bấc lùa qua bụi chuối khô, xào xạc như có ai đi.
Khiêm im lặng. Thằng Bấc trong anh nhớ cái ngày người ta vớt cái đòn gánh lên, cái đòn gánh tre đã lên nước bóng như sừng, hai đầu còn dính hai cái quang dây gai rối bùng. Nó nhớ mẹ nó ngồi ở bờ sông từ trưa đến tối, không khóc. Ký ức ấy không phải của Khiêm, nhưng nó đau trong ngực anh như một cái răng sâu.
Đêm ấy anh không ngủ được. Anh nằm nghe tiếng mẹ trở mình bên kia vách, tiếng con Cốm thở đều đều, tiếng chuột chạy trên mái. Anh nhẩm tính. Bốn sào ruộng, mỗi sào cấy dày như thế này, năm được mùa nhất cũng chỉ ba thúng thóc. Mười hai thúng cho cả một vụ, trừ thuế, trừ giống, trừ ăn. Nợ sáu quan tiền và bốn thúng thóc. Còn ba hôm nữa con Cốm sang nhà Bá Hàm.
Anh biết rất nhiều thứ. Anh biết về đạm, lân, kali, về phân xanh, về bèo hoa dâu cố định đạm, về khoảng cách cấy hai mươi nhân hai mươi phân, về chuyện đất chua thì bón vôi. Anh biết lý thuyết của nghề làm tương, đậu tương rang lên thì ra mùi thơm, mốc vàng phân giải tinh bột trong xôi nếp thành đường. Anh biết rằng nước đun sôi thì giết vi khuẩn. Anh biết hình dáng của cái thoi dệt kiểu mới, loại thoi có bánh xe nhỏ ở hai đầu, chạy trên một cái máng gỗ, người thợ chỉ giật dây là thoi tự bay qua.
Nhưng anh không biết giá một đấu nếp ở chợ làng này. Anh không biết làm sao vay được một quan tiền. Anh không biết ông Bá Hàm là người thế nào, ngoài cái việc ông ta có cái nhà ngói năm gian, một cái đò ngang, và một cái chợ.
Gần sáng, Khiêm ngồi dậy, khoác cái áo tơi lá cọ của bố thằng Bấc, mở cửa liếp, bước ra ngõ.
Trời còn tối. Sương đọng trên cỏ bờ ruộng lạnh buốt dưới bàn chân trần. Anh đi tới đầu bờ, chỗ cái cọc tre cắm nghiêng, đứng nhìn dải vải đỏ đã sẫm lại vì sương đêm.
Anh không nhổ nó lên. Anh đặt tay lên đầu cọc, ấn xuống cho nó đứng thẳng lại, rồi quay người đi về phía gò, nơi cái nhà ngói năm gian của Bá Hàm đã le lói ánh đèn.
— Hết chương 1 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe