AI Truyện
Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Phiên chợ ngày chẵn

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy · Chương 10/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Phiên chợ ngày chẵn

Kiệu của quan phủ Lạc Điền dừng ở chân đê cống Đìa đúng giờ Thìn ngày rằm tháng Năm. Bốn người phu khiêng đặt kiệu xuống, một người lính hầu vén rèm, và một ông quan ngoài năm mươi bước ra, người thấp đậm, mặt vuông, mặc áo gấm xanh đã bạc màu ở hai vai. Ông không nhìn đám đông đang quỳ hai bên đường. Ông nhìn ngay lên đoạn đê sụt.

– Hai mươi sải tay. – Ông nói với người thư lại đi bên cạnh. – Trình lên trấn bảo là mười sải.

Người thư lại cúi gằm mặt.

Quan phủ họ Mạc, đến Lạc Điền được ba năm. Dân trong phủ không ai bảo ông là quan tốt, nhưng cũng không ai bảo ông là quan ăn tiền. Người ta chỉ bảo ông thích đi bộ, thích tự nhìn tận mắt, và ghét nhất là người nói dối ông những chuyện ông có thể tự đếm được.

Quan phủ đi dọc đoạn đê vỡ cả buổi sáng, có ông lý trưởng, ông chánh tổng Khuê và Bá Hàm đi theo sau. Ông cúi xuống bốc một nắm đất ở chỗ sụt, bóp thử, rồi vứt đi. Ông hỏi cống Đìa xây từ năm nào, gạch mua ở đâu, ai đắp khúc đầu bến năm Thìn. Bá Hàm trả lời từng câu, giọng đều đều.

Đến trưa, cả đoàn đến gốc gạo đầu đê.

Phiên chợ hôm ấy đông chưa từng thấy. Không phải người ta đến để mua bán. Người ta đến để xem quan phủ xử. Mười hai làng bên này sông, làng nào cũng có người đến. Các ô chợ dưới gốc gạo kín người ngồi, ngoài rìa người đứng chật cả mặt đê. Nồi nước chè xanh trên bếp kiềng vẫn bốc hơi nghi ngút. Thằng Tép vẫn ngồi canh lửa, mặt tái mét vì sợ, nhưng tay vẫn bỏ củi đều.

Người ta kê cho quan phủ một cái ghế dựa dưới gốc gạo. Ông chánh tổng Khuê đứng bên trái, Bá Hàm đứng bên phải. Tư Sẹo quỳ ở giữa, tay dâng lên một tờ đơn.

– Bẩm quan lớn. – Ông chánh tổng nói to. – Chợ này họp lậu, không có giấy phủ, không nộp thuế. Lại bán tương có độc, làm mười bảy nhà đau bụng, suýt chết một đứa trẻ. Có đơn của ba mươi người điểm chỉ.

Quan phủ cầm tờ đơn, đọc. Ông đọc rất chậm, ngón tay dò theo từng cái tên.

– Ai đứng tên chợ này?

Khiêm bước ra, quỳ xuống.

– Bẩm quan, con là Bấc, con trai Sáu Nghiêu làng Trũng Sậy. Chợ này không có ai đứng tên. Đây là chỗ dân góp đất đắp đê cống Đìa.

Quan phủ nhìn anh, rồi nhìn lên tấm phên nứa viết chữ than, rồi nhìn cái vại sành dưới gốc gạo.

– Góp được bao nhiêu rồi?

Cụ Thông chống gậy bước ra từ cái chòi tre. Cụ quỳ xuống, run run, nhưng giọng rõ ràng.

– Bẩm quan, bốn phiên chợ, được mười ba quan bảy tiền. Tên từng người góp, làng nào, bao nhiêu, con nhớ cả. Mười ba quan đủ mua đất ở gò Đống Cao đắp được nửa đoạn sụt. Thêm bốn phiên nữa thì đủ cả đoạn.

Quan phủ quay sang người thư lại. Người thư lại cúi xuống thì thầm. Khiêm không nghe được, nhưng anh thấy quan phủ khẽ nhếch mép. Sau này người ta mới nói lại rằng tiền phủ xin trấn để đắp đoạn đê này còn chưa về, và chưa biết bao giờ về.

– Còn chuyện tương độc?

Khiêm kể. Anh kể lại chuyện ba mươi hai nhà mua tương, hai mươi sáu nhà không sao. Mười bảy nhà đau bụng, nhà nào cũng uống nước giếng xóm Đông Sậy. Anh không có giấy tờ gì. Anh chỉ có người.

Ông lang Diệu bước ra, quỳ xuống, bẩm rằng ông đã bắt mạch cho mười một nhà trong mười bảy nhà ấy. Bệnh tả lỵ do nước bẩn, không phải do ăn tương. Tương ủ mặn như thế, ông chưa thấy ai ăn mà đau bụng bao giờ.

Bà Cả Vân bước ra, ôm thằng Cún giờ đã hồng hào, bẩm rằng thằng bé uống một gáo nước giếng xóm, không ăn một miếng tương nào.

Rồi ông Đồ Hanh bước ra. Ông quỳ xuống chậm chạp, hai đầu gối run run, rồi chắp tay vái một cái.

– Bẩm quan, nhà tôi đau bụng cả nhà. Cả đời tôi chưa mua của nhà Sáu Nghiêu một bát tương nào.

Quan phủ nhìn ông Đồ Hanh một lúc. Rồi ông quay lại nhìn tờ đơn trong tay.

– Ba mươi người điểm chỉ. – Ông nói. – Có ai trong ba mươi người này ở đây không?

Không ai bước ra.

Con Lài đứng ở rìa đám đông, cắn môi. Rồi nó bước ra, quỳ xuống.

– Bẩm quan, con là Lài, con gái ông Cò Mãi chèo đò. Quan đọc tên cho con nghe được không ạ?

Người thư lại đọc. Mỗi cái tên, Lài nói một câu. Người này ở làng Đồng Bến bên kia sông. Người này cũng ở Đồng Bến. Người này bán cá ở chợ Đồng Bến, mười năm nay chưa sang sông lần nào. Người này là anh vợ ông Tư Sẹo. Đến cái tên thứ hai mươi, quan phủ giơ tay lên.

– Đủ rồi.

Ông nhìn xuống Tư Sẹo. Tư Sẹo quỳ rạp, mặt áp xuống đất, vết sẹo trên má đỏ bầm.

– Ba mươi người không ăn tương, không uống nước giếng, không sang sông, mà điểm chỉ làm chứng mười bảy nhà đau bụng ở bên này sông. – Quan phủ nói, giọng không to. – Đơn gian. Phạt năm quan nộp vào quỹ đắp đê cống Đìa. Từ nay không được làm quản chợ nữa.

Đám đông xôn xao. Ông chánh tổng Khuê lau mồ hôi trán.

Quan phủ quay sang Bá Hàm.

– Ông Bá. Chợ Đồng Bến ông đứng tên, nộp thuế chợ cho phủ hai trăm quan một năm. Chợ này họp bên này sông, lấy đi một nửa người của chợ ông. Ông nói gì?

Dưới gốc gạo, đến tiếng trẻ con cũng tắt. Khiêm nhìn sang Bá Hàm. Bà Nhỡ đứng ở ô bán tương, hai tay nắm chặt lấy vạt áo. Con Cốm đứng sau lưng mẹ.

Bá Hàm chống gậy, bước lên một bước. Ông nhìn quanh cái chợ dưới gốc gạo, nhìn những cái cọc tre chia ô, nhìn nồi nước chè, nhìn cái vại sành. Rồi ông nhìn ra phía sông Lành, nơi con đò của ông nằm im ở bến từ cái đêm vỡ đê.

– Bẩm quan. – Ông nói. – Chợ Đồng Bến họp ngày lẻ. Tôi xin quan cho chợ này họp ngày chẵn.

Ông chánh tổng Khuê quay phắt sang nhìn ông.

– Người bên này sông muốn mua bán thì khỏi phải sang sông mỗi phiên. – Bá Hàm nói tiếp, giọng đều đều như nói chuyện trời mưa. – Ai cần sang thì sang ngày lẻ. Đò tôi bớt chở được một nửa. Thuế chợ này, xin quan cho nộp phủ một nửa, nửa kia để lại làng đắp đê. Tôi đứng ra bảo lãnh, thiếu bao nhiêu tôi bù.

– Ông Bá… – Ông chánh tổng lắp bắp.

– Đò tôi lật một lần rồi. – Bá Hàm nói, không nhìn ông chánh tổng, không nhìn ai. – Bớt một người phải sang sông thì bớt một lần lật.

Quan phủ gõ ngón tay lên tay ghế mấy cái. Rồi ông gật đầu.

– Thư lại, ghi. Chợ gốc gạo đầu đê làng Trũng Sậy, họp ngày chẵn. Ai đứng tên?

Khiêm quay sang cụ Thông. Cụ Thông lắc đầu, nhưng cả đám đông đã đồng thanh:

– Cụ Thông!

Cụ Thông đứng giữa gốc gạo, chống gậy, nhìn quanh đám đông. Cụ nhổ một bãi nước trầu, rồi cười khò khè.

– Thằng ranh con. – Cụ nói với Khiêm, đủ nhỏ để chỉ anh nghe. – Mày bắt tao già rồi còn phải giữ chợ.

Kiệu quan phủ rời gốc gạo lúc xế chiều. Đám đông tản dần. Những người còn ngồi ở các ô lại bắt đầu bán, bắt đầu mua, bắt đầu cười nói. Nồi nước chè vẫn bốc hơi.

Bá Hàm đứng một mình dưới gốc gạo. Khiêm đi tới.

– Ông Bá…

– Tao không làm vì nhà mày. – Bá Hàm nói ngay. – Tao làm vì tao mất ba chục mẫu lúa, vì chợ Đồng Bến còn ngập bùn, vì cái đò của tao người ta đã sợ không dám đi. Một năm nữa, chợ này đông hơn chợ tao, tao cũng chẳng làm gì được.

Ông im một lúc.

– Nhà tao còn mấy cây lụa thằng Giáp mua từ năm ngoái, chưa bán. Để trong rương, mốc mất. Mày cho nhà tao một ô.

Khiêm nhìn ông. Rồi anh quay người, đi về phía cánh đồng.

Cái cọc tre buộc vải đỏ vẫn cắm ở đầu bờ ruộng nhà Nhỡ, giờ là ruộng của Bá Hàm cho nhà Nhỡ cấy rẽ. Nó nghiêng hẳn sau trận lụt, dải vải đỏ đã bạc thành màu hồng nhạt, sờn hết mép. Khiêm nắm lấy thân cọc, lắc mấy cái cho đất lỏng ra, rồi nhổ lên.

Anh vác cái cọc về gốc gạo. Bá Hàm vẫn đứng đấy, nhìn anh. Ông nhận ra cái cọc. Khiêm thấy hai bàn tay ông siết chặt lấy cây gậy trúc.

Khiêm cắm cái cọc xuống đất, ở cái ô ngay cạnh ô bán tương của bà Nhỡ, ấn sâu xuống, cho nó đứng thẳng.

– Ô này của nhà ông. – Anh nói.

Bá Hàm không nói gì. Ông đứng nhìn cái cọc tre rất lâu. Rồi ông chống gậy đi về phía gò, không quay đầu lại.

Bà Nhỡ đứng ở ô bên cạnh, nheo nheo đôi mắt kém nhìn theo cái lưng gầy của ông. Bà không biết gì về cái đêm đò lật ngoài những gì người ta đã kể với bà. Bà sẽ không bao giờ biết, nếu Khiêm giữ lời. Bà chỉ khẽ gật đầu một cái về phía lưng ông, rất khẽ, như người ta gật đầu chào một người hàng xóm lâu ngày không gặp.

Phiên chợ ngày mồng hai tháng Sáu, ở cái ô có cọc tre buộc vải đỏ, một bà già ở nhà Bá Hàm ngồi bán mấy cây lụa màu mỡ gà. Bên cạnh, bà Nhỡ bán tương theo bát. Con Cốm bán vải. Nồi nước chè xanh trên bếp kiềng bốc hơi nghi ngút, và thằng Tép ngồi canh lửa, giờ đã dám ngẩng đầu lên cười với khách.

Con Lài bán cá ở ô góc giếng. Lúc gần trưa, nó đi qua chỗ cái cọc, dừng lại, cởi dải vải đỏ đã bạc màu ra, buộc vào đó một dải vải mới đỏ tươi, thắt hai vòng cho chắc. Rồi nó quay lại, bắt gặp Khiêm đang nhìn, và cái răng khểnh của nó lộ ra một thoáng, không giấu kịp.

Gió nồm từ sông Lành thổi lên, lùa qua tán gạo. Dải vải đỏ trên đầu cọc tre bay phần phật.

— Hết —

Mục lục Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

  1. 1Cọc tre buộc vải đỏ10 phút đọc
  2. 2Cấy thưa thừa thóc10 phút đọc
  3. 3Nong xôi mốc xanh10 phút đọc
  4. 4Bến đò sông Lành10 phút đọc
  5. 5Con thoi của Cốm10 phút đọc
  6. 6Xanh nhà hơn già đồng9 phút đọc
  7. 7Tờ giao kèo trên mặt đê10 phút đọc
  8. 8Gốc gạo đầu đê9 phút đọc
  9. 9Những hòn sỏi trắng sỏi đen10 phút đọc
  10. 10Phiên chợ ngày chẵn9 phút đọc

Về truyện này

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →