AI Truyện
Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Nong xôi mốc xanh

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy · Chương 3/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Nong xôi mốc xanh

Ba ngày sau, nước ở góc trũng mới rút xuống ngang mặt bùn, và những gì nó để lại là một bãi lá lúa nhũn nhèo, vàng úa, bốc mùi như rau muống bỏ quên trong rổ.

Khiêm lội xuống, nhổ từng khóm. Rễ đã đen. Anh đếm: gần một sào rưỡi mất trắng, đúng cái góc anh đã cấy lại thưa nhất, đúng chỗ những khóm mạ thấp nhất.

Cụ Thông đứng trên bờ, lần này không cười.

– Ruộng trũng thì góc trũng phải cấy mạ cao, cấy dày, ông bà mình làm thế không phải vì ông bà mình ngu. – Cụ nói. – Mạ cao thì nước lên còn thò được cái ngọn mà thở. Mày cấy thưa ở chỗ đất cao thì được. Chỗ này thì không.

Khiêm không cãi. Trong sách giáo khoa không có cái góc ruộng nào trũng như lòng bàn tay úp ngửa ở chân đê sông Lành. Sách giáo khoa nói về "điều kiện tối ưu". Ruộng nhà Nhỡ chưa có ngày nào tối ưu.

– Cháu không còn mạ để cấy lại, cụ ạ.

– Nhà tao còn một mảnh mạ thừa. Mạ già rồi, lá đã cứng, nhưng cấy vào góc ấy thì vừa. – Cụ Thông quay đi. – Mày ra mà nhổ. Nhổ xong thì nợ tao ba buổi tát nước.

Chiều hôm ấy, Khiêm cấy lại cái góc trũng bằng mạ già của nhà cụ Thông, cấy dày, bốn dảnh một khóm, như bố thằng Bấc vẫn cấy, như ông thằng Bấc vẫn cấy. Anh vừa cấy vừa tính. Mạ già thì bông ngắn hơn. Chỗ này cấy muộn hơn ba tuần. Cái góc ấy, đến ngày gặt, may lắm chỉ được bằng một nửa phần còn lại.

Hai mươi thúng. Anh đã nói hai mươi thúng.

Tối hôm ấy anh nói với mẹ chuyện tương lần thứ hai. Lần này bà Nhỡ không đặt kim xuống. Bà chỉ nói:

– Không.

Rồi bà quay mặt vào vách.

Khiêm cần tiền. Không phải cho món nợ lớn, món ấy chỉ có thể trả bằng thóc vào ngày gặt. Anh cần tiền cho những thứ nhỏ hơn và gấp hơn. Mẹ cần thuốc mắt. Đống phân ủ cần thêm bèo, thêm phân trâu, mà người ta đã thôi cho không. Tết còn hơn một tháng, mà trong nhà chỉ còn lưng chum gạo. Và tiền lãi, cứ mỗi rằm, thằng Lục quản gia nhà Bá Hàm lại đến cổng đứng gõ cái gậy vào cột, không nói gì, chỉ đứng đấy cho cả xóm thấy.

Tương là thứ duy nhất nhà này biết làm mà người khác chịu bỏ tiền ra mua.

Sáng hôm sau, bà Nhỡ dắt thằng Tép đi chợ làng bên bán mấy bó rau má. Con Cốm đã sang nhà Bá Hàm nhận sợi từ tinh mơ. Khiêm ở nhà một mình. Anh kê cái ghế đẩu, trèo lên, gỡ cái hũ sành trên xà bếp xuống.

Lớp lá khô bọc miệng hũ là lá nhãn, giòn rụm, vỡ vụn trong tay anh. Bên dưới là một lớp bột vàng sẫm như phấn hoa cau, khô và nhẹ, có mùi ngai ngái như lúa mới phơi. Đó là mốc giống. Ký ức thằng Bấc nói thế. Mỗi mẻ tương, bố nó lấy ra một nhúm, rắc lên nong xôi, rồi cất phần còn lại lên xà như cất của chìm.

Anh đi vay cụ Thông ba đấu nếp. Cụ nhìn anh từ đầu đến chân, rồi đong cho anh, bằng cái đấu gỗ của nhà cụ, gạt bằng miệng.

– Mẹ mày biết không?

– Dạ, chưa ạ.

– Ờ. – Cụ chỉ nói thế.

Khiêm đồ xôi. Anh biết rất rõ mình sợ cái gì. Anh sợ mốc lạ. Anh đã thấy trên kính hiển vi những sợi nấm đen, nấm xanh mọc chen vào môi trường nuôi cấy, giết chết cả mẻ thí nghiệm của học trò. Anh đã giảng về nấm mốc sinh độc tố, về chuyện thực phẩm mốc hỏng có thể làm người ta ngộ độc. Vậy nên anh làm mọi thứ thật sạch.

Anh đun một nồi nước sôi, dội lên cái nong tre, dội từng nan một. Anh dội lên tấm vải màn để đậy. Anh vứt đống lá nhãn cũ để trong góc bếp đi, vì chúng đã lấm bồ hóng, và hái lá chuối tươi ở vườn, rửa sạch, lau khô. Anh trải xôi lên nong lúc xôi còn bốc hơi nghi ngút, rắc lên đó một nhúm mốc giống, trộn đều bằng đôi đũa cả, rồi đậy lá chuối, phủ vải, bê đặt lên cái chạn ở chỗ thoáng gió nhất trong nhà, gần cửa sổ, để hơi nóng thoát ra cho khỏi ủng.

Anh làm tất cả những việc ấy trong một buổi sáng, cẩn thận như làm thí nghiệm cho học sinh xem. Khi bà Nhỡ về đến cổng, anh đã rửa xong nồi chõ.

Bà đứng ở cửa bếp, khụt khịt mũi. Mùi xôi nếp còn thơm lừng trong nhà.

– Mày đồ xôi à?

Khiêm không trả lời. Bà Nhỡ đi lần theo vách đến chỗ xà bếp, giơ tay lên quờ. Chỗ cái hũ trống không.

Bà không nói một lời. Bà đi thẳng ra cái chạn, giở lá chuối, cúi sát xuống nong, ngửi. Rồi bà đặt lá chuối lại như cũ, đi vào buồng, đóng cửa liếp.

Đến tối bà cũng không ra ăn cơm.

Ngày thứ ba, Khiêm giở nong ra xem. Trên mặt xôi không có lớp mốc vàng mịn như hoa cau mà ký ức thằng Bấc vẫn nhớ. Xôi đã se lại, khô cứng ở mép, nhớt ở giữa, lốm đốm những vệt đen và những đám lông tơ màu xanh rêu. Mùi chua gắt bốc lên, chua như vại dưa khú.

Anh đứng nhìn cái nong, hai tay buông thõng.

Ba đấu nếp vay của cụ Thông. Một nhúm mốc giống mà bố thằng Bấc để dành từ năm nào, giờ chỉ còn lại chưa đầy nửa hũ.

Cửa buồng mở. Bà Nhỡ đi ra, đến cạnh anh, nghiêng đầu ngửi. Rồi bà làm một việc anh không ngờ: bà thò tay vào nong, nhón một miếng xôi ở giữa, đưa lên sát mắt, bóp bóp giữa hai ngón tay.

– Mày đổ xôi ra nong lúc nó còn nóng giãy, phải không?

– Dạ.

– Mày rắc mốc lúc nó còn nóng giãy.

– Dạ.

– Mốc giống là cái giống. Mày rắc hạt giống vào nồi nước sôi thì nó có mọc được không? – Bà lau tay vào vạt áo. – Mày còn dội nước sôi vào cái nong nữa, phải không? Tao ngửi thấy mùi nan tre chín.

Khiêm cúi đầu. Đến lúc ấy anh mới hiểu. Cái nong tre đã mấy chục năm ủ tương, những kẽ nan của nó đã ngấm sẵn thứ mốc vàng ấy, ngấm đến tận lõi. Lớp lá nhãn cũ lấm bồ hóng mà anh vứt đi cũng thế. Thứ anh tưởng là bẩn lại chính là cái giống. Anh đã dội nước sôi giết đi đúng thứ anh cần nuôi, rồi rắc chỗ giống còn lại lên một nong xôi nóng như than, rồi đặt nó ra chỗ gió lùa lạnh ngắt cho những thứ mốc khác lạc vào.

Anh biết rằng nhiệt độ giết nấm. Anh biết rằng mốc cần ấm. Anh biết tất cả những điều ấy. Anh chỉ không biết rằng ở nơi này, ở cái bếp này, cái nong, cái lá, cái góc buồng tối là một phần của công thức.

– Con xin lỗi mẹ.

Bà Nhỡ không nhận lời xin lỗi. Bà chỉ hỏi:

– Nếp vay của ai?

– Của cụ Thông.

Bà gật đầu, như ghi một món nợ nữa vào cái chỗ nào đó trong đầu.

Rồi bà ngồi xuống cái ghế đẩu, và lần đầu tiên từ khi Khiêm tỉnh dậy ở nhà này, bà kể.

Bà kể rằng bố thằng Bấc học làm tương từ ông nội, ông nội học từ cụ cố, ở cái làng này không ai nhớ nhà ấy làm tương từ đời nào. Tương nhà Sáu Nghiêu có màu nâu đỏ như mật mía, sánh như cháo, mặn mà thanh, ngửi đã thấy ngọt. Chợ Đồng Bến phiên nào cũng có người đứng đợi gánh tương của ông. Người ta chấm rau muống, chấm thịt luộc, chấm cả bánh đúc. Nhà có tương ngon thì cả năm không lo thiếu bữa.

– Năm ngoái, phiên chợ giáp Tết, bố mày bảo thế nào cũng đông, gánh hai vại thay vì một. Đò ông Bá hôm ấy chở đông, gió bấc thổi ngược, sóng sông bạc đầu. Ông Cò Mãi chèo đò bảo đợi chuyến sau. Bố mày không chịu đợi. Con trai ông Bá cũng không chịu đợi.

Bà ngừng lại một lúc.

– Đò lật ở giữa dòng. Mười một người, vớt lên được tám. Con trai ông Bá không lên. Bố mày không lên.

Khiêm ngồi im. Anh không biết chuyện con trai Bá Hàm. Thằng Bấc trong anh biết, nhưng nó chưa bao giờ nghĩ đến chuyện ấy như một điều đáng nghĩ.

– Mẹ không làm tương nữa vì thế à?

– Tao không làm tương nữa vì làm ra không có chỗ bán. – Bà nói, giọng khô khốc. – Sau hôm ấy, ông Tư Sẹo quản chợ Đồng Bến bảo tương nhà này mang xui. Người ta bảo bố mày tham, gánh nặng quá làm đò lật. Người ta bảo ông Bá mất con là tại nhà này. Chẳng ai nói ra miệng trước mặt tao, nhưng chẳng ai mua tương nhà tao nữa.

Ngoài sân, con gà mái cục tác đi tìm ổ. Bà Nhỡ đứng dậy, bê cái nong xôi hỏng ra đổ vào máng lợn trống, chỗ xôi ấy rồi sẽ ủ chung với đống phân của anh. Rồi bà quay vào, đứng trước mặt anh.

– Mày muốn làm tương thì làm. Một mẻ thôi. Mày làm theo tao. Tao bảo gì làm nấy, không được làm theo cái đầu sốt hỏng của mày.

Hai hôm sau, cụ Thông lại đong cho nhà Nhỡ thêm ba đấu nếp. Lần này người sang vay là bà Nhỡ.

Mẻ tương thứ hai được làm theo cách của bà. Xôi đồ xong phải trải ra nong, đợi đến khi áp mu bàn tay vào chỉ còn thấy ấm như hơi người. Nong không rửa, chỉ phủi bụi. Bà bắt Khiêm đi nhặt lại đống lá nhãn khô anh đã vứt ở bờ rào, phủi qua, phủ lên mặt xôi. Bà rắc mốc giống bằng ba đầu ngón tay, rắc như người ta rắc thính lên nồi cá kho, không nhiều không ít. Rồi bà bê cái nong vào góc buồng tối nhất, kê lên hai cái ghế đẩu, đậy bằng cái chăn bông rách, đóng kín cửa.

– Ba ngày. – Bà nói. – Không được giở ra xem.

Ngày thứ tư, bà dắt anh vào buồng, giở chăn, giở lá. Mặt nong phủ một lớp mốc vàng óng, dày và mịn như nhung, vàng như màu hoa cau mới nở. Mùi thơm ngai ngái dâng lên, nồng, ấm, như mùi lúa phơi trên sân gạch giữa trưa hè.

Khiêm đứng sững. Anh từng nhìn thấy cái màu vàng ấy trên những tấm ảnh trong sách, dưới cái tên khoa học dài ngoằng. Anh chưa bao giờ ngửi thấy nó.

Bà Nhỡ đưa tay sờ lớp mốc, nhẹ như sờ lên tóc trẻ con.

– Được rồi đấy.

Từ hôm ấy, bên hiên nhà Nhỡ có hai cái vại sành phơi nắng, miệng đậy nón lá, nước đậu tương rang ngâm muối sóng sánh bên trong, những khối xôi mốc vàng thả vào ngấu dần. Sáng nào bà Nhỡ cũng ra mở nón, cầm cái que tre khuấy từ đáy lên, rồi đậy lại. Phơi một tháng, hai tháng, càng nắng tương càng đỏ, càng ngọt.

Một buổi chiều, lúc đứng bên vại tương, Khiêm hỏi mẹ:

– Mẻ này xong thì mình mang sang chợ Đồng Bến bán chứ mẹ?

Bà Nhỡ đậy nón lại, ấn xuống cho chặt.

– Mày hỏi ông Tư Sẹo ấy. Hồi tháng Ba tao gánh sang một vò, vừa đặt chân lên bến, ông ấy cho người giật lấy hắt cả vò xuống sông.

— Hết chương 3 —

Mục lục Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

  1. 1Cọc tre buộc vải đỏ10 phút đọc
  2. 2Cấy thưa thừa thóc10 phút đọc
  3. 3Nong xôi mốc xanh10 phút đọc
  4. 4Bến đò sông Lành10 phút đọc
  5. 5Con thoi của Cốm10 phút đọc
  6. 6Xanh nhà hơn già đồng9 phút đọc
  7. 7Tờ giao kèo trên mặt đê10 phút đọc
  8. 8Gốc gạo đầu đê9 phút đọc
  9. 9Những hòn sỏi trắng sỏi đen10 phút đọc
  10. 10Phiên chợ ngày chẵn9 phút đọc

Về truyện này

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →