Chương 5: Con thoi của Cốm
Cái thoi gỗ bay vọt ra khỏi khung cửi, đập vào vách đất đánh cốp một tiếng, rồi rơi xuống cái ổ rơm nơi thằng Tép đang ngủ. Thằng bé choàng dậy, ôm trán, khóc thét.
Con Cốm ngồi trên ghế khung cửi, hai tay vẫn nắm chặt sợi dây giật, nhìn xuống tấm vải trước mặt. Hàng sợi dọc căng trên khung, những sợi gai trắng ngà mà nhà Bá Hàm giao, giờ đứt lả tả một mảng to bằng bàn tay, lòng thòng như râu ngô.
Không ai nói gì. Chỉ có tiếng thằng Tép thút thít.
Khiêm bế thằng Tép lên, xem trán nó. Một cục u đỏ to bằng đầu ngón cái. Anh xoa xoa, thổi thổi, như đã từng làm cho con gái anh khi nó còn bé, ở một nơi khác, một thời khác.
Rồi anh nhìn sang con Cốm. Nó vẫn ngồi im trên ghế, không khóc. Nhưng hai bàn tay nó, hai bàn tay nứt nẻ móng đen, run lên bần bật trên sợi dây giật.
Chuyện bắt đầu từ mười hôm trước.
Từ cái ngày Bá Hàm cấm đò, nhà Nhỡ không sang được chợ Đồng Bến nữa. Vại tương thứ hai vẫn phơi ngoài hiên, mỗi ngày một đỏ, một thơm, mà không biết bán cho ai. Khiêm gánh đi bán quanh các xóm trong làng, bán được vài bát, đổi được ít gạo, ít khoai. Người Trũng Sậy cũng như mọi người bên này sông, mua bán gì đều phải sang chợ Đồng Bến. Không ai ăn tương mỗi ngày, và chẳng ai đi mua tương ngoài chợ.
Trong khi ấy, con Cốm vẫn ngồi khung cửi từ sáng đến tối cho Bá Hàm. Thằng Lục cứ dăm ngày lại đến, mang sợi tới, mang vải đi, rồi tính công. Một tấm vải dài hai trượng, Cốm dệt mất bốn ngày ròng, Bá Hàm tính công một tiền rưỡi, trừ vào nợ. Khiêm tính nhẩm: dệt như thế này, ba năm mới trả hết số lãi.
Anh ngồi xem con Cốm dệt một buổi tối. Cái khung cửi cũ của nhà, khung gỗ xoan đã lên nước đen bóng, do chính tay ông nội thằng Bấc đóng. Cốm ngồi trên ghế, hai chân đạp lên hai bàn đạp cho các sợi dọc tách ra, rồi tay phải ném con thoi xuyên qua khe hở, tay trái bắt lấy ở đầu kia, rồi kéo cái go dập xuống cho chặt sợi, rồi lại đạp chân, ném thoi từ trái sang phải. Lặp đi lặp lại, nhịp nhàng, như người ta giã gạo.
Anh nhớ những tấm tranh trong sách lịch sử, những cái khung cửi bên trời Tây ngày xưa, và cái phát minh làm thay đổi cả nghề dệt bên ấy. Một con thoi có bánh xe, chạy trên một cái máng gỗ, hai đầu có hai cái hộp, người thợ chỉ cần giật một sợi dây là thoi tự bay qua. Một người dệt được gấp đôi. Khổ vải rộng gấp đôi, vì không còn bị giới hạn bởi sải tay.
Anh chỉ nhớ đến thế. Anh không nhớ cái máng ấy rộng bao nhiêu, nghiêng thế nào. Anh không nhớ bánh xe to hay nhỏ, con thoi nặng bao nhiêu, cái hộp hai đầu làm sao để bắt được thoi mà không bật ngược trở lại. Anh chưa bao giờ ngồi trước một cái khung cửi. Cái anh biết là một bức tranh minh họa và hai câu chú thích.
Nhưng hai câu chú thích ấy, đối với một con bé đang dệt ba năm không công để trả nợ, đáng giá hơn mọi thứ anh có.
– Mày thử xem. – Anh nói với Cốm, vẽ lên mặt đất bằng một cái que. – Một cái máng gỗ chạy dọc trước cái go. Hai đầu có hai cái hộp. Con thoi có bánh xe nhỏ, chạy trong máng. Có một sợi dây buộc vào cái gậy đánh thoi ở mỗi đầu. Mày giật dây là gậy đánh thoi bay sang đầu kia. Mày không phải ném nữa.
Cốm nhìn hình vẽ trên đất. Mắt nó sáng lên, rồi lại tối đi.
– Anh nghĩ ra cái này lúc sốt à?
– Ừ. – Khiêm nói dối.
Ông Hiu thợ mộc đầu làng cũng nhìn anh như nhìn một thằng sốt chưa lui. Nhưng ông chịu làm, vì Khiêm trả công bằng hai bát tương và một lời hứa khi nào bán được vò tương lớn thì trả thêm hai tiền. Ông đẽo một cái máng bằng gỗ mít, gắn hai cái hộp ở hai đầu, đẽo một con thoi mới có hai cái bánh xe nhỏ bằng gỗ nghiến, tra trục bằng que tre. Khiêm đứng cạnh, chỉ trỏ, sửa chỗ này, sửa chỗ kia, theo trí nhớ về một bức tranh.
Và bây giờ, sau ba ngày lắp ráp, lần giật dây thứ năm, con thoi bay khỏi máng, đánh đứt một mảng sợi dọc, và đập vào trán thằng Tép.
Sáng hôm sau, thằng Lục đến lấy vải. Nó nhìn mảng sợi đứt, nhìn cái máng gỗ kỳ quái gắn trên khung cửi, rồi bỏ về không nói một lời. Đến trưa, nó quay lại cùng một tờ giấy.
– Sợi gai ông Bá giao để dệt tấm này, giờ hỏng một nửa. – Nó đọc. – Ông Bá tính một quan, cộng vào nợ.
Bà Nhỡ đứng trong bếp, nghe thấy hết, nhưng bà không ra.
Tối hôm ấy, Khiêm định tháo cái máng ra trả khung cửi về như cũ. Anh vừa cầm cái đục lên thì con Cốm đẩy tay anh ra.
– Để đấy.
– Nó hỏng rồi, Cốm. Anh nhớ sai.
– Thì anh nhớ sai. – Cốm nói, giọng khàn khàn như vừa khóc xong mà mắt khô ráo. – Một quan nợ tôi gánh rồi. Bây giờ mà tháo ra thì một quan ấy đổ sông.
Nó ngồi xuống trước khung cửi, nhặt con thoi lên, xoay xoay trong tay dưới ánh đèn dầu lạc.
Năm đêm liền sau đó, con Cốm không ngủ.
Khiêm nằm trên ổ rơm, nghe tiếng nó lạch cạch suốt đêm. Tiếng gỗ cọ vào gỗ. Tiếng con dao gọt. Tiếng thoi chạy trong máng rồi va vào hộp, rồi tiếng nó lẩm bẩm một mình, những câu anh không nghe rõ. Có đêm anh tỉnh dậy lúc gà gáy, thấy nó gục đầu ngủ trên khung cửi, tay vẫn nắm cái đục.
Nó không hỏi anh câu nào. Nó hỏi ông Hiu, hỏi bà Nhỡ, hỏi cả bà Cả Vân đầu xóm, người dệt giỏi nhất làng. Nó tháo hai cái bánh xe ra, vì bánh xe gỗ nghiến cứ kẹt vào sợi. Nó bọc hai đầu con thoi bằng hai mẩu sừng trâu mài nhẵn, đánh sáp ong cho trơn. Nó đẽo lại cái máng cho thấp một bên, nghiêng về phía cái go, để thoi chạy sát vào hàng sợi mà không nảy lên được. Nó nhồi rơm và một mẩu da trâu vào lòng hai cái hộp ở hai đầu, để thoi đâm vào thì êm, không bật ngược trở lại. Nó buộc thêm một sợi dây gai mảnh vào gậy đánh thoi, nối lên một cái tay cầm ở giữa, để chỉ cần một tay giật sang phải, giật sang trái.
Đêm thứ năm, Khiêm tỉnh dậy vì một âm thanh lạ. Không phải tiếng lạch cạch quen thuộc. Mà là một tiếng vút nhẹ, rồi một tiếng phập êm, rồi tiếng go dập, rồi lại vút, phập, dập. Nhanh, đều, như tiếng cái chày giã gạo của nhà ai đó giã một mình giữa đêm.
Anh ngồi dậy. Con Cốm đang dệt. Tay phải nó giật dây, con thoi vút sang trái, tay trái nó dập go, chân đạp. Tay phải lại giật, con thoi vút sang phải. Cả hai tay nó không còn phải buông ra bắt thoi nữa.
Bà Nhỡ đã đứng ở cửa buồng từ lúc nào. Bà không nói gì. Bà chỉ đứng nhìn con gái mình dệt, nhìn mãi, đôi mắt kém nheo lại như cố nhìn cho rõ.
Bốn ngày sau, thằng Lục đến lấy vải. Cốm đưa cho nó hai tấm. Thằng Lục cầm hai tấm vải, lật đi lật lại, đếm sợi, kéo thử, rồi nhìn Cốm.
– Mày dệt thuê cho nhà nào nữa à?
– Không. Hai tấm của ông Bá đấy.
Thằng Lục nhìn cái khung cửi, nhìn cái máng gỗ có hai cái hộp nhồi rơm, nhìn con thoi bọc sừng. Nó mở miệng định hỏi gì đó, rồi lại thôi. Nó cuộn hai tấm vải lại, kẹp nách, đi ra cổng. Đến cổng, nó quay lại.
– Ông Bá sẽ hỏi.
– Thì cứ để ông ấy hỏi. – Cốm nói, rồi quay vào ngồi trước khung cửi.
Tối ấy, lúc cả nhà ăn cơm, Khiêm nhìn sang con Cốm. Nó gắp miếng rau muống chấm tương, và lần đầu tiên từ khi anh tỉnh dậy ở đây, anh thấy nó cười, cái cười kín đáo, khóe miệng nhếch lên một tí rồi lại mím lại.
– Anh nhớ sai cả. – Nó nói. – Bánh xe là không được. Máng phải nghiêng. Hộp phải êm.
– Ừ. Anh nhớ sai cả.
– Nhưng nếu anh không nhớ sai thì tôi cũng không nghĩ ra. – Nó nói nhanh, rồi cúi xuống ăn, không nhìn anh.
Khiêm không trả lời. Anh nghĩ đến bức tranh minh họa trong sách và hai câu chú thích. Ở bên trời Tây, cái phát minh ấy mang tên một người đàn ông. Ở đây, nó sẽ mang tên con Cốm, nếu có ai nhớ đến tên nó.
Trong những ngày ấy, lúa ngoài đồng đã lên xanh mướt. Những hàng lúa cấy thưa đã đẻ nhánh, mỗi khóm hai dảnh giờ thành mười hai, mười lăm dảnh, thân to bằng chiếc đũa, lá xanh đậm, đứng thẳng như lính. Những người đi ngang bờ ruộng không còn lắc đầu nữa. Họ dừng lại, ngắm, có người lội xuống bẻ thử một nhánh, có người hỏi Khiêm bón cái gì. Bà Cả Vân hỏi xin một gầu phân ủ. Thằng Quý cháu cụ Thông hỏi cấy thưa thế thì cách nhau mấy gang. Cụ Thông không hỏi, nhưng chiều nào cụ cũng ra đứng bờ ruộng một lúc rồi mới về.
Góc trũng cấy mạ già thì vẫn còi cọc, lá ngắn, khóm nhỏ, nhìn như đứa em sinh thiếu tháng đứng cạnh mấy anh chị lực lưỡng.
Đến cuối tháng Ba, lúa trổ bông. Những bông lúa dài, hạt mẩy, cong cong, vàng chanh dần từ đầu bông xuống. Khiêm đi dọc bờ, nhẩm tính. Nếu cái gì cũng thuận, nếu không có chuột, không có sâu, không có mưa đá, phần ruộng cao có thể ra mười sáu, mười bảy thúng. Góc trũng thêm hai, ba thúng nữa. Gần hai mươi. Sát nút.
Một buổi chiều đầu tháng Tư, anh đang đứng ở bờ ruộng thì cụ Thông chống gậy ra. Cụ không nhìn ruộng. Cụ đứng quay lưng lại với ruộng, nhìn về phía con đê, phía sông Lành.
– Mày lên đê với tao.
Hai người leo lên mặt đê. Bên kia đê, sông Lành đã đổi màu. Không còn là cái màu xám như tấm lụa của tháng Hai. Nước đỏ quạch như nước gạch cua, cuồn cuộn, chảy xiết, cuốn theo những cành cây gãy, những bó rạ, những đám bèo. Mép nước đã liếm lên đến lưng chừng mái đê.
– Thượng nguồn mưa rồi. – Cụ Thông nói. – Năm Thìn, mười hai năm trước, nước đỏ thế này vào đầu tháng Tư. Nửa tháng sau, nước tràn qua khúc đê đầu bến. Lúa chiêm cả vùng này chìm hết, không gặt được một bông.
Khiêm nhìn xuống cánh đồng bên trong đê. Lúa đang vàng chanh, bông nặng trĩu. Còn ít nhất nửa tháng nữa mới chín rộ, mới đủ thóc để đong cho Bá Hàm bằng cái thúng nhỏ của nhà ông.
— Hết chương 5 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe