AI Truyện
Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Tờ giao kèo trên mặt đê

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy · Chương 7/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Tờ giao kèo trên mặt đê

Ông chánh tổng Khuê đọc tờ giao kèo to và chậm, từng chữ một, như đọc văn tế ở đình. Giọng ông ồm ồm, vang khắp mặt đê, đến mức đám trẻ con đang mò cá ở mấy vũng nước đọng dưới chân đê cũng ngẩng lên nghe.

– … đến ngày gặt chiêm, nếu bốn sào ra không đủ hai mươi thúng, đong bằng thúng nhà ông Bá, thì ruộng thuộc về ông Bá, con gái tên Cốm sang ở nhà ông Bá ba năm, con trai tên Bấc làm không công cho ông Bá một năm. Điểm chỉ có ông lý, ông quản làm chứng.

Ông cuộn tờ giấy lại, đưa cho thằng Lục, rồi chắp tay sau lưng nhìn Khiêm.

– Mười bảy thúng rưỡi, ông lý đong, cả làng thấy. Thua thì phải chịu. Có gì nói không?

Khiêm không có gì để nói. Anh đã đọc tờ giao kèo ấy, đã điểm chỉ vào nó, đã biết từ cái đêm nước rỉ ở cống Đìa rằng anh sẽ phải đứng ở đây. Anh chỉ không ngờ rằng đứng ở đây lại khó đến thế, khi bà Nhỡ đứng một bên, con Cốm đứng một bên, thằng Tép ôm chặt lấy chân anh.

Bá Hàm ngồi trên một cái ghế đẩu thằng Lục mang theo. Ông gầy rộc đi sau ba ngày, gò má nhô cao hơn, hai mắt trũng sâu. Ông không nhìn ai. Ông nhìn xuống cánh đồng ngập nước bên dưới, chỗ ba chục mẫu ruộng của ông đang nằm dưới lớp nước đỏ.

– Thưa ông chánh tổng.

Tất cả quay lại. Con Cốm bước ra khỏi chỗ đứng sau lưng mẹ. Nó mặc cái áo nâu đã bạc, tóc vấn gọn bằng một cái khăn vải thô, hai tay chắp trước bụng. Giọng nó không run.

– Con xin được thưa với ông Bá một câu.

Ông chánh tổng nhíu mày, nhìn sang Bá Hàm. Bá Hàm không nói gì, chỉ khẽ gật đầu.

Cốm quay sang ông.

– Ông Bá, con sang ở nhà ông ba năm thì ông được gì? Ông được một đứa con gái ngồi khung cửi nhà ông, mỗi tháng dệt được bảy, tám tấm. Ông nuôi con ăn, cho con mặc, ba năm ông được hơn hai trăm tấm vải.

– Thế thì sao? – Bá Hàm hỏi, giọng khàn.

– Con ở nhà con, ngồi cái khung cửi nhà con, cái khung có thoi bay mà thằng Lục đã thấy, mỗi tháng con dệt được mười lăm tấm. Ông giao sợi, con dệt, vải ông mang lên phủ bán. Ông không phải nuôi con. Tiền bán vải, ông lấy bảy phần, con lấy ba phần, phần của con trừ vào nợ. Một năm rưỡi nhà con trả xong. Ông được gấp đôi số vải, mà nhanh gấp đôi.

Trên mặt đê không ai nhúc nhích. Bà Nhỡ quay sang nhìn con gái, miệng hé ra mà không nói được gì.

– Còn ruộng? – Bá Hàm hỏi.

– Ruộng là của ông, theo giao kèo. – Cốm nói. – Nhưng cái ao cá của ông giờ không còn bờ. Đắp lại bờ ao phải tốn cả trăm công, ba tháng mới xong. Ông lấy bốn sào ấy để mở rộng cái ao không còn bờ, hay ông cho nhà con cấy rẽ, nộp tô ông một nửa thóc? Ông vừa xem nhà con gặt non mà được mười bảy thúng rưỡi đấy.

Khiêm đứng nhìn em gái mình. Đến lúc ấy anh mới hiểu: suốt năm đêm thức trắng bên cái khung cửi, con bé không chỉ tính cái máng nghiêng bao nhiêu, cái hộp nhồi bao nhiêu rơm. Nó tính cả cái này.

Ông chánh tổng Khuê ho một tiếng.

– Con gái nhà quê, ăn nói hỗn hào. Giao kèo đã điểm chỉ…

– Để nó nói. – Bá Hàm giơ tay lên.

Ông nhìn Cốm từ đầu đến chân. Lần đầu tiên Khiêm thấy trên khuôn mặt gầy gò ấy một cái gì đó giống như sự ngạc nhiên, rồi một cái gì đó giống như sự mệt mỏi.

– Mày tính được giá vải ở phủ à?

– Con hỏi thằng Lục. – Cốm nói. – Nó bảo ông bán một tấm hai trượng được ba tiền.

Thằng Lục đỏ mặt, cúi gằm xuống.

Bá Hàm thở dài, một tiếng thở dài rất dài, như người vừa đặt gánh nặng xuống.

– Ruộng tao chìm hết. – Ông nói, không biết là nói với ai. – Ba chục mẫu. Thuế điền của phủ vẫn phải nộp đủ, tháng Sáu này. Thóc trong kho, nước vào ướt một nửa. Tao cần tiền mặt. Tao không cần thêm một miệng ăn trong nhà.

Ông quay sang ông chánh tổng.

– Ông Khuê viết lại cho tôi một tờ. Như con bé này nói. Bảy ba. Ruộng cấy rẽ nộp nửa tô. Thằng Bấc khỏi làm không công.

– Ông Bá…

– Viết đi.

Ông chánh tổng mím môi, nhưng vẫn ra hiệu cho thằng Lục lấy giấy bút. Cả mặt đê lại ồn lên. Bà Cả Vân vỗ tay đánh đét một cái rồi vội vàng bịt miệng. Cụ Thông cười khò khè. Con Lài đứng ở cuối đám đông, nhìn Khiêm, rồi nhìn con Cốm, rồi lấy tay che miệng cười.

Khiêm nhìn em gái. Cốm không nhìn anh. Nó cúi đầu chào ông Bá một cái, rồi quay lại đứng sau lưng mẹ, như chưa có chuyện gì xảy ra. Nhưng anh thấy hai bàn tay nó, hai bàn tay nứt nẻ móng đen, đang nắm chặt lấy vạt áo của bà Nhỡ, nắm đến trắng bệch cả các khớp.

Lúc mọi người đã tản về, Bá Hàm vẫn ngồi trên cái ghế đẩu ở mặt đê. Ông bảo thằng Lục về trước. Ông gọi Khiêm lại.

Hai người ngồi trên mặt đê, nhìn xuống cánh đồng ngập nước. Mặt nước đỏ đã lắng bớt, trong dần, phản chiếu bầu trời xanh ngắt và những đám mây trắng trôi lững lờ. Một con cò trắng đứng một chân trên đầu cái cọc tre buộc vải đỏ.

– Mày biết vì sao tao cấm đò chở nhà mày không? – Bá Hàm hỏi.

– Vì cháu không bán tương cho ông.

– Không phải. – Ông lắc đầu. – Tao mua tương nhà mày để nhà mày khỏi phải gánh qua sông. Mày không bán, nên tao cấm đò.

Khiêm quay sang nhìn ông. Ông vẫn nhìn xuống cánh đồng.

– Thằng Giáp con tao, năm ngoái nó mười tám tuổi. – Ông nói. – Hôm ấy nó chở bốn bao lụa sang chợ Đồng Bến bán Tết. Đò đã đầy người. Ông Cò Mãi bảo đợi chuyến sau. Nó không chịu. Nó bảo là đò của bố nó, nó muốn đi lúc nào thì đi. Ông Cò Mãi không dám cãi con ông chủ. Bố mày gánh hai vại tương đứng ở mũi đò, đã định bước xuống nhường chỗ cho nó. Nó bảo không cần, cứ đứng đấy.

Ông ngừng lại một lúc lâu. Con cò trắng trên đầu cọc tre vỗ cánh bay đi.

– Đò lật ở giữa dòng. Thằng Giáp không biết bơi. Bố mày biết bơi. Bố mày bỏ đòn gánh, bơi lại túm lấy cổ áo thằng Giáp, đẩy nó lên bám vào mạn đò. Ông Cò Mãi thấy. Ba người khác thấy. Rồi một con nước xoáy tới, đò lật úp lần nữa. Cả hai không lên.

Khiêm ngồi im. Thằng Bấc trong anh không biết chuyện này. Không ai trong nhà Nhỡ biết chuyện này. Người ta chỉ nói với bà Nhỡ rằng ông Sáu Nghiêu tham gánh nặng, làm lật đò.

– Sao ông không nói với mẹ cháu?

Bá Hàm cười, một tiếng cười khô khốc như tiếng que gãy.

– Nói gì? Nói rằng con tao làm chết chồng bà ấy? Rằng tao có cái đò, có cái chợ, có ba chục mẫu ruộng, mà không dạy được thằng con biết đợi một chuyến đò? – Ông lắc đầu. – Người ta bảo Sáu Nghiêu làm lật đò. Tao để người ta bảo thế. Tư Sẹo hắt vò tương của mẹ mày, tao để nó hắt. Vì tao không chịu được cái mùi tương ấy trên bến đò của tao nữa.

Ông chống gậy đứng dậy, chậm chạp, khó nhọc.

– Hôm ở bến, tao nếm tương nhà mày. Đúng vị ngày xưa thằng Giáp ăn. Tao đã nghĩ, thôi thì mua hết, để tao không phải nhìn thấy một thằng con trai nhà Sáu Nghiêu đứng trên đò tao nữa.

Ông bước đi. Được mấy bước, ông dừng lại.

– Đừng nói với mẹ mày. Bà ấy ghét tao thì cứ để bà ấy ghét. Ghét một người thì dễ sống hơn là tiếc một người.

Khiêm ngồi trên mặt đê đến tận chiều. Anh nghĩ đến câu cuối cùng của ông Bá. Anh nghĩ đến cái đêm anh nhào theo đứa học trò trượt chân trên con đê ở Ninh Bình, nắm lấy cổ áo nó. Có những điều mà người ta làm ở thế giới này, người ta cũng làm ở thế giới kia, giống hệt nhau, không cần ai dạy.

Tối hôm ấy, anh không nói gì với mẹ.

Những ngày sau trận lụt, làng Trũng Sậy như một người vừa ốm dậy. Nước rút để lại một lớp bùn đỏ dày trên khắp cánh đồng. Những nhà gặt sớm có thóc phơi trên mặt đê. Những nhà không gặt thì ngồi ở hiên nhìn ra đồng, không ai nói với ai câu nào.

Bà Cả Vân mang sang nhà Nhỡ một con gà mái, bảo là trả công cái câu "xanh nhà hơn già đồng". Thằng Quý mang sang một bó củi. Hai nhà xóm Đìa mang sang mỗi nhà một thúng khoai. Ông Đồ Hanh không mang gì, nhưng gặp Khiêm ngoài ngõ thì gật đầu chào trước.

Cụ Thông sang ngồi ở hiên nhà Nhỡ, uống nước chè xanh bà Nhỡ pha, nhìn hai cái vại tương phơi nắng.

– Đò không qua được sông nữa. – Cụ nói. – Ông Cò Mãi bảo nước còn xiết, nửa tháng nữa mới dám chèo. Mà chợ Đồng Bến ở bãi bồi, giờ chìm dưới bùn ngập đến đầu gối, chưa họp được. Cả bên này sông, mười hai làng, không có chỗ nào mà mua bán.

– Thì mình họp chợ bên này, cụ ạ.

Cụ Thông quay sang nhìn anh. Lần này cụ không cười, không nhổ nước trầu. Cụ nhìn như nhìn một người lạ.

– Họp ở đâu?

– Ở gốc gạo đầu đê. Chỗ ấy đất cao, nước không ngập. Đường từ ba làng bên cạnh đi đến đấy đều gần. Đất ấy là đất công của làng, phải không cụ?

– Đất công. – Cụ Thông gật đầu. – Nhưng họp chợ thì phải có lệnh làng. Lý trưởng phải ký giấy trình lên phủ. Phủ phải cho phép, rồi phủ thu thuế chợ.

– Thế thì mình đi xin ông lý.

Cụ Thông im lặng một lúc. Rồi cụ đặt bát nước chè xuống.

– Mày đi xin ông lý thì ông lý sẽ hỏi ông Bá. – Cụ nói. – Chợ Đồng Bến mỗi năm nộp thuế chợ lên phủ hai trăm quan, ông Bá đứng tên. Một nửa số người họp chợ Đồng Bến là người bên này sông. Mày mở chợ bên này, ông Bá mất một nửa chợ.

Sáng hôm sau, Khiêm và cụ Thông lên đình. Ông lý trưởng nghe hết, gật gù, vuốt râu, rồi bảo để ông nghĩ. Chiều hôm ấy ông cho người sang báo: làng không ký giấy. Chợ là việc lớn, phải đợi ông chánh tổng.

Và ông chánh tổng Khuê, ai trong làng cũng biết, sáng nào cũng uống trà trên cái sập gỗ gụ ở nhà ông Bá Hàm.

— Hết chương 7 —

Mục lục Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

  1. 1Cọc tre buộc vải đỏ10 phút đọc
  2. 2Cấy thưa thừa thóc10 phút đọc
  3. 3Nong xôi mốc xanh10 phút đọc
  4. 4Bến đò sông Lành10 phút đọc
  5. 5Con thoi của Cốm10 phút đọc
  6. 6Xanh nhà hơn già đồng9 phút đọc
  7. 7Tờ giao kèo trên mặt đê10 phút đọc
  8. 8Gốc gạo đầu đê9 phút đọc
  9. 9Những hòn sỏi trắng sỏi đen10 phút đọc
  10. 10Phiên chợ ngày chẵn9 phút đọc

Về truyện này

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →