AI Truyện
Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Xanh nhà hơn già đồng

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy · Chương 6/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Xanh nhà hơn già đồng

– Xanh nhà hơn già đồng. – Cụ Thông nói, rồi gõ cái gậy tre xuống mặt đê ba cái. – Câu ấy mày nghe chưa?

Khiêm nghe rồi. Cả cái làng này ai cũng nghe rồi. Lúa còn xanh mà gặt về được đến nhà thì còn hơn lúa chín vàng mà nằm ngoài đồng chờ nước cuốn. Câu ấy ông bà truyền lại, đứa trẻ lên năm cũng thuộc.

Nhưng thuộc một câu và làm theo nó là hai chuyện khác nhau. Đêm ấy, ngồi bên ngọn đèn dầu lạc, Khiêm nhẩm tính lại lần thứ mười. Nếu gặt ngay bây giờ, khi lúa mới chín tám phần, hạt chưa chắc hẳn, một phần sẽ lép, một phần sẽ gãy khi đập. Bốn sào sẽ ra được mười sáu, mười bảy thúng, đong bằng thúng nhỏ của nhà Bá Hàm. Không đủ hai mươi. Thua cược. Ruộng mất. Con Cốm sang nhà Bá Hàm ba năm, chính anh một năm.

Nếu đợi thêm nửa tháng, lúa chín rộ, anh có thể được hai mươi. Có thể. Nếu nước không lên.

Còn nếu nước lên thì chẳng còn gì để mà đong.

– Mày định thế nào? – Bà Nhỡ hỏi từ trong bóng tối. Bà chưa ngủ.

– Con không biết, mẹ ạ.

– Ờ. – Bà im một lúc. – Bố mày cũng không biết, năm ấy, hôm gánh hai vại tương ra bến. Ông ấy bảo đợi chuyến sau thì lỡ phiên chợ. Ông ấy không đợi.

Khiêm ngồi im rất lâu. Ngoài kia, tiếng sông Lành ì ầm vọng qua thân đê, đều đều, không lúc nào dứt, như tiếng ai đó thở rất nặng trong giấc ngủ.

Sáng hôm sau anh sang nhà Bá Hàm.

Ông vẫn ngồi trên cái sập gỗ gụ ở hiên, chén trà trên tay, chuỗi hạt gỗ trong tay kia, như thể từ cái hôm Khiêm đến đây lần đầu, ông chưa đứng dậy lần nào.

– Mày lại đến xin cái gì?

– Cháu đến xin ông cho đong thóc sớm. Cháu muốn gặt ngay, mai, ngày kia. Nước sông lên. Cháu xin ông cho đong thóc sớm mà vẫn tính hai mươi thúng.

Bá Hàm nhìn anh một lúc, rồi cười.

– Hai mươi thúng là hai mươi thúng. Gặt ngày nào là việc của mày, đong bao nhiêu là việc của cái thúng. Mày gặt non, thóc lép, thì tại mày.

– Năm Thìn nước tràn đê…

– Năm Thìn đê thấp. – Bá Hàm cắt lời. – Sau năm Thìn, tao bỏ ra ba trăm quan cùng với phủ đắp lại khúc đê đầu bến, cao hơn cũ ba thước. Mười hai năm nay nước có lên đến đâu? – Ông chỉ tay ra phía cánh đồng của nhà ông, ba chục mẫu ruộng tốt nhất làng, lúa vàng rực đến tận chân trời. – Ruộng tao đấy. Tao còn chưa sợ, mày sợ cái gì?

Khiêm không nói được gì nữa. Ông Bá Hàm không phải là kẻ ngu. Ông có lý của ông, và cái lý ấy đứng trên ba trăm quan tiền với mười hai năm nước không tràn.

Anh đứng dậy. Ra đến cổng, anh quay lại.

– Ông Bá. Khúc đầu bến ông đắp cao. Còn khúc đê chỗ cống Đìa bên này, ông có đắp không?

Bá Hàm không trả lời. Ông chỉ nâng chén trà lên.

Cái cống Đìa là chỗ nước từ trong đồng thoát ra sông. Thân đê ở đấy bị khoét một cái lỗ to để xây cống gạch, đã mấy chục năm, gạch đã mủn. Khiêm biết điều ấy vì sáng nào đi tát nước với thằng Quý, anh cũng đi ngang qua đấy, và sáng nào cũng thấy một vũng nước rỉ ra từ chân đê, đục ngầu, rỉ rả như nước mắt.

Chiều hôm ấy anh và cụ Thông đi từng nhà.

Không phải ai cũng nghe. Ông Đồ Hanh bảo cụ Thông già lẩm cẩm nhớ nhầm năm. Bà Cả Vân bảo nhà bà còn thiếu ba thúng mới đủ thuế, gặt non thì lấy gì mà nộp. Ông lý trưởng thì nghe hết, gật gù, rồi bảo đã có người lên phủ hỏi, phủ chưa nói gì thì làng chưa có lệnh gì, ai muốn gặt thì cứ gặt, nhưng đừng có đánh trống mõ làm loạn làng.

Nhưng có người nghe. Thằng Quý về bảo bố nó, bố nó bảo cả nhà ra đồng. Bà Cả Vân suy nghĩ cả đêm rồi sáng hôm sau ra gặt nửa ruộng, để lại nửa kia. Hai nhà ở xóm Đìa gần chân đê nhất thì gặt ngay vì nhà họ đã nghe thấy tiếng nước rỉ ở cống Đìa từ mấy hôm nay mà không dám nói.

Sáng hôm sau, cả nhà Nhỡ ra đồng.

Bà Nhỡ mắt kém không cắt được lúa, nhưng bà ngồi ở bờ, bó lúa, buộc lạt, tay thoăn thoắt như đã làm việc này cả nghìn lần. Con Cốm bỏ khung cửi, xắn quần, cầm liềm. Thằng Tép ôm từng bó lúa chạy lên bờ, chân lấm lên đến háng. Khiêm cắt từ sáng đến tối, lưng đau như ai bẻ, tay phồng rộp rồi vỡ, máu khô lại thành vảy dính vào cán liềm.

Gần trưa ngày thứ hai, anh ngẩng lên thì thấy có thêm một người đang cắt lúa ở góc ruộng xa nhất. Một cái nón lá, một cái áo nâu vá vai, một bóng người con gái nhỏ thó.

Đó là con Lài.

Anh lội sang. Lài không ngẩng lên, tay vẫn cắt.

– Bố mày biết không?

– Bố tôi bảo sang. – Lài nói. – Bố tôi bảo nước đỏ thế này thì ông ấy không dám chèo đò sang sông nữa, ông Bá nói gì cũng mặc. Bố tôi bảo năm ngoái ông ấy đã không giữ được người nào ở lại bờ. Năm nay ông ấy muốn giữ được một nhà.

Khiêm đứng nhìn con bé. Nó gạt một giọt mồ hôi trên trán bằng mu bàn tay, rồi cúi xuống cắt tiếp.

– Đứng đấy làm gì? – Nó nói. – Cắt đi. Nước không đợi anh đâu.

Ba ngày, bốn sào lúa nhà Nhỡ được cắt sạch, gánh lên mặt đê. Khiêm chọn đoạn đê cao nhất, xa cống Đìa nhất, quét sạch, trải phên nứa, rải lúa ra phơi. Không có sân gạch, không có sân đất nện, chỉ có mặt đê lồi lõm cỏ may. Anh đập lúa bằng cách quật từng bó vào một cái ghế gỗ, như người ta vẫn làm. Thóc rơi lả tả. Những hạt chắc thì vàng óng, những hạt chưa chín hẳn thì xanh nhạt, mỏng dính.

Đêm thứ năm, mưa ở thượng nguồn dội xuống.

Khiêm không ngủ. Anh nằm trên mặt đê, cạnh đống thóc phủ phên, nghe tiếng nước sông dâng lên từng chút một. Đến nửa đêm thì tiếng nước đã khác. Không còn ì ầm đều đều nữa, mà là những tiếng ục ục, những tiếng sủi bọt như nồi nước sắp sôi, những tiếng ken két như có cái gì đang nghiến răng dưới lòng đất.

Rồi có tiếng mõ.

Tiếng mõ gỗ dồn dập vang lên từ phía xóm Đìa, một hồi, hai hồi, ba hồi liền không ngắt. Rồi có tiếng người hét, tiếng chó sủa, tiếng trâu rống. Khiêm bật dậy, chạy dọc mặt đê về phía cống Đìa.

Dưới ánh đuốc, anh thấy một cái lỗ đen ngòm ở chân đê, ngay bên cạnh cống gạch. Nước sông đỏ quạch đang phụt qua cái lỗ ấy như phụt qua vòi rồng, mỗi lúc một to hơn. Đất đá ở thành lỗ cứ thế lở ra, rơi tõm vào dòng nước. Mấy chục người đàn ông đang vác bao đất, vác cành cây, vác cả cánh cửa gỗ ra lấp, nhưng lấp chỗ nào nước lại phá chỗ ấy.

Đến gần sáng thì cả một đoạn đê dài chừng hai mươi sải tay sụt xuống. Nước sông tràn vào cánh đồng Trũng Sậy như nước tràn vào một cái chậu.

Khi mặt trời lên, Khiêm đứng trên đoạn đê cao, nhìn xuống. Cả cái lòng chảo ruộng bên dưới đã thành một cái hồ nước đỏ. Những ngọn lúa chín vàng của những thửa ruộng chưa gặt chỉ còn thò lên một tí ở chỗ đất cao, rồi chìm dần, chìm dần. Ba chục mẫu ruộng của nhà Bá Hàm chìm hẳn. Cái ao cá rộng mênh mông của ông giờ không còn bờ, cá bơi ra khắp cánh đồng.

Bốn sào ruộng nhà Nhỡ cũng chìm. Ở đầu bờ ruộng, chỗ trước kia là bờ, chỉ còn một cái cọc tre thò lên khỏi mặt nước một gang tay, trên đầu cọc dải vải đỏ đã sẫm màu, ướt sũng, quấn chặt vào thân cọc.

Bà Cả Vân đứng bên cạnh anh, ôm cái nón lá, khóc thút thít. Nửa ruộng bà gặt sớm giờ đang phơi trên mặt đê. Nửa kia đang nằm dưới nước.

Cụ Thông chống gậy đi tới, đứng cạnh Khiêm. Cụ không nói gì. Cụ chỉ đặt bàn tay khô như que củi lên vai anh, rồi rút lại.

Hai ngày sau, nước bắt đầu rút. Đến ngày thứ ba thì ông quản thằng Lục và ông lý trưởng lên mặt đê, mang theo cái thúng của nhà Bá Hàm. Ông Bá không đến. Người ta nói từ đêm vỡ đê, ông nằm liệt trong nhà, không ăn không uống.

Ông lý trưởng đong thóc. Thằng Lục đếm. Thóc của nhà Nhỡ đã phơi khô, quạt sạch, đổ vào cái thúng nhỏ, gạt bằng miệng, từng thúng một. Cả xóm Đìa đứng xem. Con Lài đứng ở cuối đám đông.

– Mười lăm. Mười sáu. Mười bảy.

Thằng Lục múc đến đáy bồ. Còn một nửa thúng.

– Mười bảy thúng rưỡi. – Ông lý trưởng nói to, rồi ho một tiếng như để xin lỗi.

Không ai nói gì. Bà Nhỡ đứng cạnh Khiêm, bàn tay bà tìm đến tay anh, nắm lấy. Bàn tay bà lạnh ngắt.

Mười bảy thúng rưỡi trên bốn sào ruộng chua trũng nhất làng, gặt non trước một trận vỡ đê. Một năm bình thường, đó sẽ là con số mà cả làng phải đến hỏi bí quyết. Năm nay, đó là con số của một cuộc cược thua.

Sáng hôm sau, trời trong vắt. Khiêm đang phơi nốt chỗ thóc lép trên mặt đê thì thằng Tép chạy hộc tốc lên, chỉ tay về phía con đường đất dẫn từ gò xuống.

Ông Bá Hàm đang đi tới, lưng còng hơn mọi ngày, tay chống một cây gậy trúc. Bên cạnh ông là một người đàn ông béo tốt mặc áo dài lam, đội khăn xếp, có hai người lính lệ cầm roi mây đi theo. Đó là ông chánh tổng Khuê. Trên tay thằng Lục, đi sau cùng, là tờ giao kèo bằng giấy bản cuộn tròn.

— Hết chương 6 —

Mục lục Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy

  1. 1Cọc tre buộc vải đỏ10 phút đọc
  2. 2Cấy thưa thừa thóc10 phút đọc
  3. 3Nong xôi mốc xanh10 phút đọc
  4. 4Bến đò sông Lành10 phút đọc
  5. 5Con thoi của Cốm10 phút đọc
  6. 6Xanh nhà hơn già đồng9 phút đọc
  7. 7Tờ giao kèo trên mặt đê10 phút đọc
  8. 8Gốc gạo đầu đê9 phút đọc
  9. 9Những hòn sỏi trắng sỏi đen10 phút đọc
  10. 10Phiên chợ ngày chẵn9 phút đọc

Về truyện này

Cọc tre buộc vải đỏ ở làng Trũng Sậy là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →