Chương 6: Chiếc vòng thứ hai
Lần trước, bà Diếp mất vào mùa đông năm hai nghìn lẻ tám, và mẹ bắt Tèng phải về đưa đám. Anh về, đứng ở cuối sân, khó chịu, không hiểu vì sao mẹ khóc nhiều hơn cả họ hàng người chết. Chị Ngải cũng về. Chị đứng trước linh cữu rất lâu, rồi quỳ xuống lạy ba lạy, lạy sát đất, như lạy bố mẹ đẻ. Trên bàn thờ có hai chiếc vòng bạc đặt cạnh nhau trên một cái đĩa sứ. Tèng nhìn thấy, thấy một chiếc giống vòng của mẹ, rồi quên. Anh ra về ngay chiều hôm ấy, không ở lại ăn cơm, vì anh vẫn chưa quên cái chảo khâu nhục.
Bà Diếp cắm nén hương vào bát, rồi mới quay lại.
Bà không giật mình. Bà nhìn Tèng đứng giữa cửa, áo cài lệch khuy, tóc rối, chân dép lê, như nhìn một con mèo hàng xóm đi lạc vào bếp.
– Tao chờ mày ba hôm nay. – Bà nói. – Tưởng mày nhát, không đến.
– Cái vòng ấy của ai? – Tèng hỏi. Giọng anh khàn đi.
Bà Diếp không trả lời ngay. Bà đi đến cái bàn gỗ gụ, ngồi xuống, rót hai chén chè từ cái ấm tích, đẩy một chén về phía cái ghế đối diện.
– Ngồi.
Tèng ngồi.
– Của con Thơm nhà tao. – Bà nói. – Ảnh nó kia. Năm tám tám nó mười tám tuổi. Tao mua cho nó cái vòng ấy ở phiên chợ bản Khau Lìn, của ông thợ bạc già ở đấy, ông ấy chạm hoa mận đẹp nhất vùng. Mẹ mày cũng người Khau Lìn. Vòng của mẹ mày chắc cũng của nhà ông ấy làm, đời bố hoặc đời ông.
Bà nhấp một ngụm chè.
– Tháng Chạp năm tám tám, có một thằng buôn dưới xuôi lên, đẹp trai, ăn nói ngọt, tên là Tuấn. Nó ăn cơm ở quán tao, nó cho con Thơm cái kẹp tóc. Ra Giêng nó bảo đưa con Thơm sang bên kia buôn bán. Con Thơm đi. Nó tháo cái vòng ra để lại cho tao, bảo mẹ giữ hộ, con sợ mất. Từ đấy đến giờ không về.
Ngọn đèn dầu trên bàn thờ kêu lách tách. Tèng nhìn tấm ảnh cô gái tóc dài đang cười.
– Bà có đi tìm không?
– Tìm. – Bà nói. – Bốn năm. Tao bán ruộng, bán vàng, thuê người sang dò. Có người bảo thấy nó ở chợ này, có người bảo nó ở bản kia. Người ta lấy tiền rồi bảo không thấy. Tao về, tao mở cái nghề cho vay.
– Vì sao?
– Vì cho vay thì tao biết mọi đồng tiền đi đâu trong cái phố này. – Bà nói, và lần đầu tiên Tèng thấy bà cười một cái cười không khô. – Ai buôn gì, ai đi đâu, ai về lúc nào, ai nợ ai. Người vay tiền nói với tao những thứ họ không nói với vợ. Bốn năm nay tao ngồi đây chờ một thằng có cái sẹo ở ngón áp út tay trái.
Tèng đặt chén chè xuống.
– Cái sẹo?
– Thằng Tuấn đeo một cái nhẫn mặt đá đỏ. Con Thơm kể với tao, nó bảo anh ấy không bao giờ tháo. Năm ngoái có một con bé ở bản Khau Lìn trốn được về. Nó không nói với ai, nhưng nó nói với mẹ nó, mẹ nó nói với tao, vì mẹ nó nợ tao tiền. Con bé ấy bảo: người đưa nó đi có một cái sẹo tròn ở ngón tay, chỗ đeo nhẫn, vì có lần có đứa con gái bị đưa đi đã cắn vào tay nó, cắn đến nát cả nhẫn.
Tèng ngồi im. Anh nhìn bàn tay mình, rồi nhìn ra ngoài, về phía bãi xe nơi chiếc xe tải phủ bạt xanh của Toại đang đỗ ở chỗ số mười ba.
– Cái gói bà đưa anh ta ở quán nước. – Anh nói.
– Một triệu. – Bà nói. – Nó hỏi vay. Tao cho vay, lãi thấp, với điều kiện nó viết giấy có tên thật, quê quán thật, ký tên. Nó viết: Lâm Văn Toại, quê Hải Phòng, số nhà, tên phố. Tao gửi người xuống Hải Phòng dò. Tuần trước người ta về. Số nhà ấy là một cái kho chứa than. Không ai tên Toại.
Bà rút trong ngăn kéo bàn ra một tờ giấy gấp tư, đặt lên bàn. Chữ đẹp, nghiêng. Cuối tờ giấy là một chữ ký lượn vòng.
Tèng nhìn chữ ký ấy. Anh đã thấy nó trên tờ giấy học trò Toại đưa bố hôm nhận tiền.
– Sao bà không báo công an?
– Báo rồi. – Bà Diếp nói. – Người ta bảo bà có bằng chứng gì? Một tờ giấy vay khai sai địa chỉ thì là chuyện tiền nong dân sự. Một con bé trốn về không chịu khai. Một cái sẹo ở ngón tay thì nửa phố này đi cõng hàng đứa nào chẳng có sẹo. Người ta không sai. Người ta cần bắt được tận tay.
Bà nhìn Tèng qua cặp kính.
– Đến lượt mày. Mày biết gì? Mày nhìn nó từ hôm đầu tiên nó đến góc phở mẹ mày, tao thấy. Một thằng mười bảy tuổi không nhìn người như thế nếu không biết gì.
Tèng im lặng rất lâu. Rồi anh nói. Anh không nói anh đã sống năm mươi mốt năm. Anh nói anh nằm mơ, một giấc mơ dài và rõ như thật. Trong giấc mơ ấy, đêm hai mươi ba tháng Chạp, chị Ngải đi theo Toại. Ba năm sau chị về, không vòng, không nói. Và có một người đã đưa chị về, mà nhà anh không bao giờ biết là ai.
Anh nói đến đó thì dừng lại. Anh nhìn chiếc vòng trên đĩa sứ. Anh nhớ cái đĩa sứ ở đám tang năm hai nghìn lẻ tám. Hai chiếc vòng. Chị Ngải quỳ lạy sát đất. Mẹ khóc như mất mẹ đẻ.
Anh hiểu ra, và cái hiểu ấy đến chậm, nặng, như một đoàn tàu hàng chạy vào ga.
Người đưa chị Ngải về là bà Diếp. Bà đã bán gì, đã đi những đâu, đã trả bao nhiêu tiền, anh không biết. Nhưng chị Ngải về không có vòng, vì chị đã đưa nó cho bà, như con Thơm đã đưa cho bà năm nào. Chị Ngải biết. Mẹ biết, có lẽ biết từ trước khi bà mất. Chỉ có anh không biết. Anh đi tù, anh lên Hà Nội, anh ghét người đàn bà này mười lăm năm vì một cái chảo khâu nhục, trong khi bà ấy đã mang chị anh về từ bên kia biên giới.
– Mày làm sao thế? – Bà Diếp hỏi. – Mặt trắng bệch ra.
– Không ạ. – Tèng nói. Anh cúi đầu, cúi thấp, thấp hơn cả lúc đứng trước bố hôm nhận hai triệu một. – Cháu xin lỗi bà.
– Xin lỗi cái gì?
– Cháu đã nghĩ xấu về bà.
Bà Diếp nhìn anh một lúc. Rồi bà khịt mũi.
– Cả phố nghĩ xấu về tao. Thêm một thằng nữa cũng chẳng chết ai. – Bà rót thêm chè. – Mơ thì mơ. Tao cũng mơ, đêm nào cũng mơ. Hai mươi ba tháng Chạp, mày chắc không?
– Cháu chắc.
– Thế thì còn hơn ba tuần. – Bà nói. Rồi bà gẩy một hạt bàn tính, như thói quen. – Ba tuần, phải có con bé ở Khau Lìn chịu nói. Có nó nói, có cái sẹo, có tờ giấy này, rồi bắt được tận tay. Tao già rồi, đi bản không nổi. Mày đi.
– Cháu đi.
– Mày nói gì với chị mày?
Tèng cười, một cái cười méo.
– Cháu nói rồi. Chị ấy bảo cháu im.
– Thì im. – Bà Diếp nói. – Đứa con gái mười chín tuổi đang thương một thằng đàn ông, mày càng nói nó càng bịt tai. Con Thơm nhà tao cũng thế. Tao càng cấm nó càng đi. Hôm nó đi, tao còn mắng nó một câu, câu cuối cùng tao nói với nó. Tám năm nay tao ngồi đây nhớ cái câu ấy, mà không nhớ nổi nó mặc áo màu gì.
Tèng về nhà lúc gần hai giờ sáng. Cửa buồng chị Ngải hé mở. Chị nằm nghiêng, cái chăn bông đắp đến cằm, cái kẹp tóc con bướm đỏ đặt cạnh gối. Cổ tay chị buông ra ngoài chăn, chiếc vòng bạc lấp lánh dưới vệt trăng lọt qua khe cửa sổ.
Tèng ngồi xuống bậc cửa buồng. Anh không định đánh thức chị. Nhưng chị trở mình, mở mắt.
– Tèng à? – Chị thì thào. – Đi đâu về muộn thế?
– Em đi dạo.
– Đi dạo lúc hai giờ sáng. – Chị cười khẽ trong bóng tối. – Mày điên.
Chị im một lúc. Rồi chị nói, giọng ngái ngủ, như nói với cái trần nhà:
– Tèng ơi. Chị không giận mày nữa đâu. Chị biết mày lo. Nhưng chị muốn đi làm, kiếm tiền xây cho mẹ cái nhà gạch. Mẹ ở cái nhà ván này hai mươi năm rồi, mùa đông gió lùa, mẹ ho cả đêm mày có nghe không? Bán hàng xén thì bao giờ mới xây được.
Tèng không trả lời. Anh nghe tiếng chị thở đều trở lại, rồi ngủ. Anh ngồi đó thêm một lúc, nhìn chiếc vòng trên cổ tay chị, rồi trèo lên gác xép, nằm mở mắt nhìn mái ngói đến khi tàu năm giờ chạy qua.
Sáng hôm sau, Toại đến góc phở như mọi ngày. Anh ta ăn bát phở chua, khen nức nở, trả tiền gấp đôi. Rồi anh ta ngồi lại uống chén chè với bố, vừa ở đồi với ông Nhạ về, tay còn dính sơn đỏ.
– Chú Tảo ạ, – Toại nói, – chuyến hàng đầu năm em đã nhận được tiền cọc. Đợt sau em mang lãi đến chú. Còn chuyện chị Ngải, em tính thế này: hôm hai mươi ba tháng Chạp, xe em chạy chuyến cuối năm, em cho chị Ngải đi cùng sang bên kia một hôm, xem gian hàng, làm quen chỗ ở. Ra Giêng thì chị đi hẳn. Cũng là để chị yên tâm.
Bố gật đầu.
– Cậu tính thế là chu đáo.
Toại cười. Anh ta ngoái lại phía bãi xe, phía chiếc xe tải phủ bạt xanh đỗ ở chỗ trong cùng. Anh ta nói với Tèng, vui vẻ như nói chuyện thời tiết:
– Đêm hai mươi hai chú để anh đỗ xe đến sáng nhé, ông chủ bãi. Sáng sớm hai mươi ba anh chạy.
Tèng đứng sau nồi nước dùng, cầm cái muôi. Anh gật đầu.
– Vâng. Chỗ số mười ba.
— Hết chương 6 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe