AI Truyện
Chiếc vòng bạc ở bãi xe chợ Kỳ Lừa

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Hai chiếc vòng trên mâm cỗ mùng hai

Chiếc vòng bạc ở bãi xe chợ Kỳ Lừa · Chương 10/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Hai chiếc vòng trên mâm cỗ mùng hai

Lần trước, Tèng ăn Tết Bính Tý trong trại giam. Sáng mùng một, người ta phát cho mỗi người một cái bánh chưng nhỏ bằng bàn tay và một quả quýt. Chiều mùng hai, mẹ lên thăm, mang theo một gói khâu nhục gói lá dong, còn ấm. Mẹ không nói được gì, mẹ chỉ ngồi nhìn anh ăn. Anh ăn hết, không chừa miếng nào, rồi úp mặt xuống cái bàn gỗ mà khóc, trước mặt cán bộ, trước mặt những người tù khác. Mẹ đưa tay xoa đầu anh qua cái bàn, như xoa đầu thằng Tí. Đó là lần cuối cùng anh khóc trước mặt mẹ.

Sáng mùng hai Tết Bính Tý, mẹ dậy từ ba giờ.

Mẹ không nấu cỗ ở nhà. Mẹ gánh cả cái bếp sang nhà bà Diếp. Cái nồi to, cái chảo hấp khâu nhục, rổ lá dong, rổ hành, thúng gạo nếp. Chị Ngải gánh một gánh nữa. Con Én xách hai giỏ. Thằng Kẹo cõng thằng Tí đã sáu tuổi, ngủ gục trên lưng. Bố đi sau cùng, tay cầm cây búa tuần đường, không phải để làm gì, chỉ vì bố quen cầm nó mỗi khi ra khỏi nhà lúc trời còn tối.

Tèng đi cạnh mẹ. Trời lạnh, sương muối phủ trắng các mái nhà trên phố Kỳ Lừa. Năm nay không có tiếng pháo. Chỉ có tiếng chó sủa, tiếng gà gáy, và tiếng chân sáu người nhà anh trên con đường lát đá.

Bà Diếp đứng sẵn ở cổng sắt sơn xanh. Bà mặc bộ áo dài nhung màu nâu, thứ áo Tèng chưa bao giờ thấy bà mặc. Tóc bà búi cao, cài cái trâm bạc. Bà không đeo kính.

– Bà không đeo kính à? – Thằng Kẹo hỏi.

– Đeo vào thì khóc mờ kính. – Bà Diếp nói, cộc lốc như mọi khi. – Vào đi.

Cả buổi sáng, cái sân gạch đỏ nhà bà Diếp biến thành một gian bếp. Mẹ đứng bếp, mẹ hấp khâu nhục, mẹ luộc gà, mẹ đồ xôi gấc, mẹ làm phở chua, món mà bà Diếp bảo con Thơm ngày bé ăn một lúc ba bát. Chị Ngải gói bánh. Con Én bày mâm, xếp bát đũa thẳng hàng như kẻ cột sổ. Bố và thằng Kẹo bổ củi. Tèng chạy đi chạy lại, ra chợ mua thêm hành, thêm rau mùi, thêm quả mắc mật. Chợ mùng hai vắng, chỉ có mấy bà bán lá dong và một ông bán hoa đào cành, ngồi co ro trong áo bông, hỏi anh nhà ai cưới mà mua lắm thế.

Bà Diếp không làm gì. Bà ngồi trên cái ghế gỗ gụ ở hiên, cạnh ba lồng chim họa mi, nhìn ra cổng. Thỉnh thoảng bà đứng dậy, đi ra cổng, nhìn ra đầu phố, rồi lại đi vào ngồi.

Gần trưa, có tiếng xe ôm dừng ở đầu phố.

Bà Diếp đứng dậy. Bà không chạy. Bà đi, thẳng lưng, từng bước, như đi ra trước tòa. Tèng thấy hai bàn tay bà nắm chặt vạt áo dài nhung.

Một người đàn bà đứng ở đầu phố, hai mươi sáu tuổi mà trông như ngoài ba mươi, gầy, tóc dài buộc thấp, mặc cái áo bông kiểu bên kia. Bên cạnh chị là hai đứa trẻ, một đứa con gái chừng năm tuổi, một đứa con trai chừng ba tuổi, mặc áo đỏ, nép vào chân mẹ. Người đàn bà nhìn quanh phố, nhìn những mái nhà, nhìn cái cột điện, nhìn quán nước của bà Lù, như người ta nhìn một tấm ảnh cũ để tìm xem mình đứng ở đâu trong đó.

Rồi chị nhìn thấy bà Diếp.

Hai người đứng cách nhau mười bước. Không ai bước thêm bước nào.

– Mẹ. – Người đàn bà nói. Chữ ấy bật ra không thành tiếng, chỉ là một cái mấp máy môi.

Bà Diếp đi nốt mười bước. Bà không ôm con. Bà cầm lấy cổ tay trái của con, lật lên, nhìn. Cổ tay trống trơn. Bà rút trong túi áo dài ra chiếc vòng bạc chạm hoa mận, cái vòng đã nằm trên đĩa sứ trước tấm ảnh suốt tám năm, và đeo vào tay con. Chiếc vòng hơi rộng. Con Thơm gầy đi nhiều.

Rồi bà mới ôm. Bà ôm cả con gái lẫn hai đứa cháu, ôm giữa phố, trước mặt cả phố Kỳ Lừa đang đứng ở các cửa nhà nhìn ra. Bà không khóc thành tiếng. Bà chỉ run, cái lưng gầy trong tấm áo dài nhung run lên từng cơn, như một ngọn đèn trước gió.

Mâm cỗ mùng hai nhà bà Diếp có mười ba người.

Tèng đếm. Bà Diếp, con Thơm, hai đứa cháu. Bố, mẹ, chị Ngải, anh, thằng Kẹo, con Én, thằng Tí. Lĩnh mang theo mẹ vừa mổ xong, da đã hồng hào trở lại. Mười ba. Anh nhìn mâm cỗ, nhìn những cái bát xếp thẳng hàng của con Én, và anh suýt bật cười.

Con Thơm ăn phở chua của mẹ. Chị ăn một bát, rồi một bát nữa, rồi bát thứ ba. Ăn đến bát thứ ba thì chị đặt đũa xuống, cúi mặt, và hai đứa con chị hoảng hốt nhìn mẹ khóc mà không hiểu vì sao.

– Mẹ ơi, – con Thơm nói, giọng tiếng Việt đã cứng, chữ nọ lẫn chữ kia, – ở bên ấy con nấu thử mấy lần. Không ra vị này.

– Thiếu quả mắc mật. – Mẹ nói. – Bên ấy không có quả này. Tí nữa cô gói cho cháu một túi mang về.

Bà Diếp gắp một miếng khâu nhục bỏ vào bát con gái, không nói gì.

Sau bữa cỗ, con Thơm ngồi cạnh chị Ngải ở hiên. Hai người đàn bà, một hai mươi sáu tuổi, một hai mươi hai tuổi, chưa từng gặp nhau, ngồi cạnh nhau như hai chị em. Con Thơm nhìn cổ tay chị Ngải. Chị Ngải nhìn cổ tay con Thơm.

– Cái vòng của chị... – Chị Ngải nói.

– Ông thợ bạc ở Khau Lìn. – Con Thơm nói. – Mẹ chị mua cho chị năm chị mười tám.

Chị Ngải tháo chiếc vòng của mình ra, khỏi sợi dây chun chị khâu vào cho khỏi tuột. Con Thơm cũng tháo ra. Hai người lật hai chiếc vòng, soi vào lòng. Hai con cá. Con cá trên vòng của chị Ngải có một vạch. Con cá trên vòng của con Thơm có hai mươi bảy vạch, chi chít, khắc nhỏ như sợi tóc.

– Một với hai mươi bảy. – Con Én nói. Con bé đứng sau lưng hai người từ lúc nào, nhìn qua vai. – Cái của chị Ngải là cái đầu tiên ông ấy làm.

Hai người đàn bà nhìn nhau, rồi cùng bật cười.

Lúc dọn mâm, bà Diếp gọi Tèng vào trong nhà. Bà ngồi sau cái bàn gỗ gụ, cái bàn tính vẫn nằm đó, cuốn sổ bìa đen vẫn nằm đó. Bà đẩy cuốn sổ về phía anh.

– Mai tao trả lại hết giấy nợ cho người ta. – Bà nói. – Ai còn nợ gốc thì trả gốc, lãi tao xóa.

Tèng nhìn bà, không hiểu.

– Tao cho vay là để biết tiền đi đâu, người đi đâu. – Bà nói. – Tao tìm được con tao rồi. Tao không cần biết nữa.

Bà gẩy một hạt bàn tính, theo thói quen, rồi dừng tay, nhìn cái hạt gỗ nằm lệch khỏi hàng.

– Còn cái bãi đất. – Bà nói. – Mày thuê ba năm nay, trả đúng hạn, không chậm ngày nào. Từ năm nay tao không lấy tiền thuê nữa. Coi như tiền công nhà mày nấu cỗ.

– Bà ơi, một bữa cỗ...

– Một bữa cỗ mùng hai. – Bà Diếp ngắt lời. – Tao chờ nó tám năm.

Tèng cúi đầu. Anh nghĩ đến cái chảo hấp khâu nhục bị bê đi giữa buổi chợ, trong một cuộc đời khác, cái chảo mà sáng nay mẹ vừa gánh sang hấp khâu nhục cho cả nhà bà ăn. Anh không nói gì về nó. Có những món nợ chỉ một người nhớ, và người ấy tự xóa là đủ.

Chiều hôm ấy, lúc gánh bếp về, mẹ dừng lại ở hiên nhà. Mẹ tháo chiếc vòng bạc trơn, chiếc cuối cùng còn trên cổ tay mẹ, cầm lấy tay con Én.

– Đeo đi. – Mẹ nói. – Mười hai tuổi chưa đến tuổi đeo. Nhưng đeo đi.

Con Én nhìn chiếc vòng trên cổ tay mình, nhìn mẹ.

– Sao mẹ cho con?

Mẹ nghĩ một lúc. Mẹ không giỏi tìm chữ tiếng Kinh. Rồi mẹ nói:

– Vì con dạy mẹ viết tên.

Đêm mùng hai, Tèng ra bãi xe trông thay Lĩnh để Lĩnh ở nhà với mẹ.

Bãi vắng. Chỉ có mấy cái xe đạp của người buôn ngủ lại nhà trọ. Ở chỗ trong cùng, chỗ số mười ba, giờ là một khoảng đất trống. Từ hôm chiếc xe tải phủ bạt xanh bị kéo đi, không ai đỗ ở đấy. Người buôn kiêng. Tèng để nguyên.

Anh ngồi trong chòi, đốt ngọn đèn dầu, mở cuốn sổ con Én ghi, lật lại từ trang đầu. Ngày mở bãi: bốn cái xe đạp. Rồi sáu mươi. Rồi một trăm. Rồi hai bãi. Chữ con Én từ tròn trịa trẻ con dần dần thành chữ nghiêng, nhanh, gọn.

Anh nghĩ đến cái xe khách hỏng ở dốc Chi Lăng, năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu. Anh nghĩ đến cuộc điện thoại của con Én: anh Tèng ơi, hôm nay mẹ mất rồi. Em ước gì hồi đấy em được đi học tiếp. Anh không biết cái đời ấy còn ở đâu đó hay không, anh có phải quay về đó hay không, có ai đang ngồi trên cái ghế xe khách lạnh ngắt chờ xe sửa xong hay không. Anh không biết. Anh chỉ biết đêm nay mẹ đang ngủ trong căn nhà ván ghép cách đây năm mươi bước, ngáy khe khẽ như mọi đêm. Trên bậu cửa sổ có một tờ giấy, trên tờ giấy có chữ "Nhùng" viết bằng bút bi, mẹ tập trong lúc chờ nồi xôi chín.

Gần sáng, Tèng nghe tiếng bánh sắt từ xa vọng lại.

Anh tắt đèn, đứng dậy, đi ra cổng bãi. Trời còn tối, sương muối trắng trên mái tôn. Đoàn tàu chạy qua đầu phố, cái đèn pha đầu máy quét một vệt sáng dài trên đường ray, trên những mái nhà, trên cái cổng gỗ có then cài. Rồi tiếng còi. Dài, khàn, rung cả mấy tấm tôn trên mái chòi.

Năm giờ. Tèng đứng ở cổng nhìn đoàn tàu đi qua cho đến toa cuối cùng.

Anh đã dậy từ trước.

— Hết —

Mục lục Chiếc vòng bạc ở bãi xe chợ Kỳ Lừa

  1. 1Còi tàu lúc năm giờ10 phút đọc
  2. 2Bốn triệu hai trong phong bì vàng9 phút đọc
  3. 3Vé xe cắt từ bìa lịch9 phút đọc
  4. 4Đồi cọc đỏ9 phút đọc
  5. 5Cuốn vở ô li của Én9 phút đọc
  6. 6Chiếc vòng thứ hai9 phút đọc
  7. 7Cô gái ở bản Khau Lìn9 phút đọc
  8. 8Vé xe số mười ba9 phút đọc
  9. 9Ba bao pháo trước Tết Bính Tý9 phút đọc
  10. 10Hai chiếc vòng trên mâm cỗ mùng hai9 phút đọc

Về truyện này

Chiếc vòng bạc ở bãi xe chợ Kỳ Lừa là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →