Chương 7: Ông Chín Đực khai lại
Tui cất cái hộp gỗ vô hũ gạo dưới bếp, lấp gạo lên, rồi đi ra theo chị Ba.
Anh Hai đứng trong vệt đèn pha, tay đút túi quần. Chị Ba đi tới cách ảnh hai bước thì dừng lại, đưa cái phong bì dán kín ra.
– Anh Hai. Em trả lại anh.
Anh Hai nhìn cái phong bì, không cầm.
– Em giữ đi. Tiền học thằng Tín, anh cho nó, đâu phải cho em.
– Thằng Tín nó tự lo được rồi. Nó xin được học bổng. – Chị Ba vẫn chìa cái phong bì ra, tay run mà không rút lại. – Ba năm anh đóng cho nó, em sẽ trả anh. Trả từ từ. Em ghi giấy nợ cho anh cũng được.
Anh Hai nhìn chị Ba rất lâu. Rồi ảnh cầm lấy cái phong bì, bỏ vô túi áo, cử chỉ chậm rãi như người cất một món đồ không còn xài nữa.
– Ừ. – Ảnh nói. – Em nói với thằng Út hết rồi phải không?
– Em nói cái em biết.
– Em biết cái gì? – Anh Hai cười, cái cười mỏi mệt. – Em biết em viết tờ đơn năm chín chín? Em biết ba nói gì trong bệnh viện? Em ra tòa nói, ông luật sư bên anh hỏi lại em: chị có giấy tờ gì chứng minh không? Chị là em ruột thằng Cội, chị có quyền lợi trong vụ này, chị nói ai tin? Một tờ giấy nháp không chữ ký, ai viết mà chẳng được?
Chị Ba không trả lời. Anh Hai quay qua tui.
– Út nghe anh nói nè. Anh không phải ác. Anh không lấy của Út. Phần của má, nếu tòa xử có, thì Út được bao nhiêu? Một phần tư của một nửa khúc ngoài. Tám phần trăm miếng đất. Anh đã tính rồi, anh trả Út bằng tiền, đúng giá, có khi còn cao hơn giá. Út cầm tiền, anh cầm đất, anh giao cho Phú Đạt, ai cũng xong chuyện. Út cứ đòi khư khư miếng đất làm gì? Út đòi miếng nào? Miếng mé sông cho người ta làm bến? Út đứng giữa cái bến ghe của người ta mà ở hả?
Tui nhìn anh Hai trong vệt đèn pha. Ảnh già hơn tui tưởng. Tóc hai bên thái dương bạc trắng, mắt thâm quầng, cái áo sơ mi trắng bữa nay nhăn nheo, không bỏ vô quần. Mấy tháng nay tui chỉ thấy ảnh là người lấy vườn của tui. Tui chưa nghĩ ảnh cũng đang chạy, chạy như người bị chó rượt.
– Anh Hai. – Tui nói. – Tui không đòi miếng nào hết. Tui đòi cây dừa của má.
Anh Hai nhìn qua cây dừa Bà, cái thân cong vẹo trong ánh đèn pha, rồi lắc đầu.
– Cây dừa. – Ảnh lặp lại, như nghe một câu nói đùa. – Út bỏ mấy tỷ bạc để giữ một cây dừa già.
Ảnh lên xe, đóng cửa, chạy đi. Chị Ba đứng đó, hai tay buông thõng, cho tới khi tiếng máy xe tắt hẳn ở đầu xóm.
Sáng hôm sau, tui đem tờ giấy pơ-luya với tấm hình lên văn phòng cô Trân. Cô đọc tờ đơn nháp, lật tấm hình, đọc hàng chữ mực tím, rồi ngồi im một lúc lâu, quên cả viên kẹo gừng đang ngậm.
– Anh Hai anh nói đúng một chuyện. – Cô nói. – Tờ nháp này không có chữ ký, không có dấu. Nó không thay được tờ đơn gốc. Nhưng nó cho mình biết tờ đơn gốc ghi cái gì. Nó cho mình biết phải đòi cái gì. Và nó có người viết còn sống, sẵn sàng ra tòa. Cái đó khác hẳn hôm qua.
Cô soạn một văn bản gửi tòa, đề nghị tòa đôn đốc cơ quan đất đai cung cấp hồ sơ cấp giấy năm chín chín, nói rõ trong hồ sơ phải có tờ đơn xin đăng ký viết tay, có mục nguồn gốc sử dụng, có chữ ký của cả ông Lượng lẫn bà Mai. Cô đề nghị tòa lấy lời khai của chị Ba. Cô đề nghị tòa xem xét lại lời khai của ông Chín Đực.
– Ông Chín Đực. – Cô Trân gõ cây bút lên bàn. – Anh có đi gặp ổng không?
– Tui không dám. Tui sợ người ta nói tui đi ép người làm chứng.
– Anh không ép. Anh đi thăm một ông già hàng xóm. Anh đọc cho ổng nghe đúng cái tờ ổng đã ký. Rồi ổng nói gì thì nói. Nếu ổng muốn khai lại, thì ổng tự làm đơn, tự đi lên tòa, có người nhà đi theo. Anh không viết giùm ổng một chữ nào.
Chiều đó, tui mua một ký cam sành, chạy xe qua nhà ông Chín Đực.
Nhà ông Chín ở cuối xóm, sát bờ kinh, mái lá đã thay bằng mái tôn, cột vẫn là cột gỗ đen bóng. Ông ngồi trên cái võng đan bằng dây dù, mắt đục như hai giọt sữa, tay cầm cái quạt mo cau phe phẩy. Con dâu ông, chị Tư Hoa, mời tui ngồi, rót nước trà, rồi ngồi luôn bên cạnh, như sợ tui nói gì không phải với cha chồng.
– Ai đó? – Ông Chín hỏi, nghiêng đầu về phía tui.
– Dạ, con là Út Cội. Con ông Tư Lượng.
– À, thằng Út. – Ông Chín cười, móm mém. – Thằng nhỏ hồi xưa ăn bánh ú của tao tới bội thực. Ba mày mất tao không đi đám được, chân tao yếu rồi. Mày ngồi đây.
Tui ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh võng. Tui nói chuyện với ông về ba, về ông nội, về trận lũ năm hai ngàn, về cái lò lu của ông Thiềng ngày xưa ở đầu vàm. Ông Chín nhớ hết. Ông nhớ năm ông Thiềng bán lò, nhớ cái giá miếng đất mé sông, nhớ cả bữa ông Thiềng với ba tui làm giấy tay, má tui làm con vịt nấu chao, ông uống say quá phải nằm lại ngủ trên bộ ván.
– Đất mé sông là ba má con mua của ông Thiềng hả ông?
– Thì vậy chớ sao. – Ông Chín nói, như tui hỏi một câu ngớ ngẩn. – Ông nội mày cho ba mày khúc trong, giáp đường. Khúc mé sông là đất ông Thiềng. Năm đó má mày bán đôi bông tai, cả xóm biết.
Chị Tư Hoa nhìn tui, rồi nhìn cha chồng, mặt tái đi.
Tui lấy trong túi ra bản sao tờ tự khai mà bên anh Hai nộp cho tòa. Tui không đưa cho ông. Tui hỏi chị Tư Hoa:
– Chị Tư, chị đọc cho ông nghe giùm tui tờ này được không? Đọc nguyên văn.
Chị Tư Hoa cầm tờ giấy, ngập ngừng một chút, rồi đọc. Đọc tới đoạn "toàn bộ thửa đất, kể cả phần đất giáp sông Hậu, có nguồn gốc khai hoang của ông Võ Văn Thới, sau đó cho riêng con trai là ông Võ Văn Lượng, không có mua bán gì", thì ông Chín ngồi bật dậy trên võng, cái quạt mo cau rơi xuống đất.
– Ai viết cái đó? – Ông hỏi, giọng run lên.
– Dạ, tờ này có chữ ký của ông. Bên anh Hai con nộp lên tòa.
– Tao ký hồi nào? – Ông Chín quay qua con dâu. – Hoa, tao ký cái đó hồi nào?
Chị Tư Hoa cúi mặt.
– Dạ… tháng trước, có ông luật sư với anh Hai Tường xuống. Họ nói xin ông xác nhận chuyện ông nội anh Tường khai hoang đất. Họ đọc cho ông nghe khúc đầu, khúc nói ông nội khai hoang khúc trong. Ông gật. Họ đưa ông ký. Con… con không đọc hết tờ giấy. Con tưởng…
Ông Chín Đực ngồi im trên võng, hai bàn tay gân guốc bấu vào mép võng. Ngoài kinh có tiếng xuồng máy chạy ngang, sóng vỗ lép bép vô chân cầu ván.
– Tám mươi bốn tuổi. – Ông nói, giọng nghẹn. – Tao sống tám mươi bốn năm chưa từng làm chứng gian cho ai. Ông Tư Lượng là bạn tao. Bà Tư Mai nấu vịt nấu chao cho tao ăn. Bây giờ tao làm chứng gian cho thằng con ổng để lấy đất của thằng con kia.
Ông quờ tay tìm tay tui, nắm chặt.
– Út. Mày đừng lo. Ngày mai tao kêu thằng Tư chở tao lên tòa. Tao khai lại. Tao nói đúng cái tao biết.
Tui ra về lúc trời chạng vạng. Tui không vui. Tui nghĩ tới anh Hai, ngồi trong cái nhà mái tôn này tháng trước, đọc cho một ông già mắt mờ nghe nửa tờ giấy. Anh Hai tui hồi nhỏ chạy theo ông Chín đi bắt cá rô đồng, được ông cho cái nơm tre. Tui không biết người ta phải sợ tới cỡ nào mới làm được chuyện đó. Tui chạy xe ngang qua vườn nhà mình, thấy trên gốc mấy cây dừa mặt sông có thêm một vòng sơn trắng mới quét, quanh thân, ở ngang tầm đầu gối. Ông Sáu Lắm đang đứng dưới gốc cây dừa Bà, nhìn cái vòng sơn trắng đó, lắc đầu.
– Cái gì vậy ông Sáu?
– Đội cưa bên Phú Đạt xuống đánh dấu. – Ông Sáu nói. – Vòng trắng là chỗ cưa. Mười tám tháng Chạp, giao dừa cho bà Bảy xong là họ đốn liền. Tui nghe ông Hai nói chuyện điện thoại. Ổng không chờ tòa được nữa. Ổng nói đốn rồi thì cây cũng không mọc lại, tòa có xử sao thì cũng chỉ là tiền.
Tối đó tui gọi cô Trân. Cô nghe xong, im một lúc, rồi nói chậm từng chữ.
– Mình phải xin tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp. Đốn cây là thay đổi hiện trạng. Tòa xem xét thì có thể ra quyết định nhanh. Nhưng anh Cội, có một cái khó. Người xin áp dụng biện pháp này phải nộp một khoản tiền bảo đảm, phòng khi mình xin sai mà gây thiệt hại cho bên kia. Khoản này không nhỏ. Tòa sẽ ấn định.
– Bao nhiêu cô?
– Tui ước chừng mấy chục triệu. Có khi hơn.
Tui cúp máy, ngồi trên bộ ván. Trong buồng, Lành đang dỗ con Hến ngủ, hát một câu vọng cổ không trọn, cứ lặp đi lặp lại một khúc.
Tui không cần nói. Lành đã nghe hết. Một lát sau vợ tui bước ra, cầm cái hộp sữa bột rỗng, đặt lên ván trước mặt tui, mở nắp. Bên trong là mấy xấp tiền cột thun, và chiếc vòng vàng cưới.
– Ba mươi mốt triệu, với cái vòng. – Lành nói. – Vòng này má đeo cho em. Má mà còn, má cũng đem đi đổi.
— Hết chương 7 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe