Chương 1: Cái ổ khóa trên cổng vườn
Cái ổ khóa mới sáng choang, to bằng nắm tay con Hến, treo trên cánh cổng vườn mà ba tui cả đời chưa từng khóa.
Tui đứng trước cổng, tay còn xách hai bao trái dừa khô chở từ vựa về, nhìn cái ổ khóa một hồi lâu, như nhìn một con vật lạ bò lên từ dưới sông. Cổng vườn nhà tui là hai tấm khung sắt hàn lưới B40, ba hàn hồi tui mười tuổi, sơn xanh đã tróc gần hết, chốt bằng một sợi dây chì vặn xoắn. Ba nói vườn dừa ai muốn vô coi thì vô, ai khát thì bẻ một trái mà uống, khóa lại làm chi cho người ta nói nhà mình hẹp bụng.
Ba mất mới được hai mươi hai ngày.
Bên trong cổng, dọc mấy hàng dừa sát mé sông, có ba bốn người đàn ông lạ đang đi tới đi lui. Một người cầm cái thước dây cuộn, một người cầm lon sơn đỏ với cây cọ. Tui nhìn kỹ, thấy họ quét lên gốc mỗi cây dừa một con số, sơn đỏ chảy thành vệt xuống thân như máu ở vết dao. Số mười bảy. Số mười tám. Số mười chín.
– Mấy anh ơi! Mấy anh làm cái gì vậy?
Người cầm lon sơn quay lại nhìn tui, rồi nhìn về phía căn nhà ngói giữa vườn. Ở hàng ba trước nhà, anh Hai tui đứng đó, áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây, giày da, tay cầm cái điện thoại to bằng cuốn tập. Anh Hai thấy tui, giơ tay vẫy một cái, rồi thong thả đi ra, lấy trong túi quần ra một chùm chìa khóa còn mới, mở cái ổ khóa.
– Út về rồi hả. Vô đi, anh có chuyện nói.
– Anh Hai, sao lại khóa cổng? Mấy người này là ai?
– Từ từ. Vô nhà rồi nói.
Anh Hai tui tên Võ Văn Tường, năm nay năm mươi hai tuổi, lớn hơn tui mười tuổi. Ảnh rời nhà từ hồi hai mươi, lên chợ tỉnh buôn bán đủ thứ, rồi buôn đất, giờ có nhà ba tầng ở mặt đường, có chiếc xe hơi màu đen. Ảnh nói chuyện ngọt, cười nhiều, đi đám giỗ đám cưới trong họ lần nào cũng bao thơ dày nhất. Bà con trong xóm ai cũng nói thằng Hai nhà ông Tư Lượng giỏi, làm ăn lớn.
Còn tui là thằng Út ở nhà giữ vườn. Ba mươi năm leo dừa, tay chân chai như vỏ dừa khô.
Trong nhà, bàn thờ ba còn nghi ngút nhang. Lành, vợ tui, đang ngồi dưới bếp lặt rau, nghe tiếng anh Hai thì đi lên, chùi tay vô vạt áo, chào một tiếng rồi đứng ở cửa buồng, không ngồi. Con Hến đi học chưa về.
Anh Hai ngồi xuống bộ ván gõ giữa nhà, chỗ ba nằm hồi còn sống. Ảnh lấy trong cặp ra một tập giấy đựng trong bìa nhựa, đặt lên mặt ván, lấy hai ngón tay đẩy qua phía tui.
– Út đọc đi. Di chúc của ba. Có công chứng đàng hoàng.
Tui cầm lên. Giấy trắng, đánh máy, có con dấu đỏ của văn phòng công chứng trên chợ tỉnh, có chữ ký run run của ba ở cuối trang, có điểm chỉ ngón trỏ. Ngày lập di chúc là bốn tháng trước, hồi ba nằm viện lần thứ hai.
Tui đọc chậm, vì tui học hết lớp chín, chữ nghĩa giấy tờ đọc lâu. Đọc tới chỗ quan trọng thì tui dừng, đọc lại hai lần cho chắc. Ba để lại cho anh Hai toàn bộ phần quyền sử dụng đất của ba trong thửa đất số mấy đó, tờ bản đồ số mấy đó, cùng nhà cửa, cây trồng trên đất.
– Ba để hết cho anh?
– Ừ. – Anh Hai gật đầu, giọng nhẹ như nói chuyện trời mưa. – Út đừng buồn. Ba tính kỹ rồi. Ba nói thằng Út hiền, không biết làm ăn, giữ cái vườn này thì cả đời cũng chỉ ôm mấy trăm cây dừa. Để anh Hai lo, anh Hai biết cách làm cho miếng đất này ra tiền, rồi anh lo lại cho em.
– Lo lại là lo sao?
Anh Hai nhìn qua phía cửa sổ, nơi mấy người đàn ông lạ vẫn đang quét sơn lên gốc dừa.
– Anh nói thẳng cho Út dễ hiểu. Bên công ty Phú Đạt muốn mua nguyên khu đất mặt sông này làm kho bãi với bến ghe. Họ trả giá tốt, tốt lắm. Anh đã nhận cọc rồi. Mấy người ngoài kia là người của công ty xuống đo đạc, đánh số cây để tính tiền đền bù cây trồng cho đúng. Sau Tết là bàn giao.
Tui nghe trong đầu mình có cái gì kêu răng rắc, như tiếng tàu dừa khô gãy trong gió chướng.
– Còn nhà? Vợ con tui ở đâu?
– Anh tính rồi. – Anh Hai mở cặp, lấy ra thêm một tờ giấy nữa. – Anh cho Út ba trăm triệu. Không phải anh nợ gì Út, mà anh thương em. Ba trăm triệu, Út ra đầu kinh mua miếng đất nhỏ cất cái nhà, dư thì mua chiếc ghe chở dừa mướn. Út ký tờ này, xác nhận là đã đọc di chúc, không có ý kiến gì. Trước hai mươi ba tháng Chạp dọn đi, để anh còn dọn dẹp mặt bằng.
Lành ở cửa buồng bước lên một bước. Tui đưa tay ra sau, nắm cổ tay vợ. Tay Lành lạnh ngắt, còn dính mấy cọng rau muống.
– Anh Hai. – Tui nói, cố cho giọng đừng run. – Cái nhà này tui ở với ba má từ nhỏ. Má mất, tui ở nuôi ba thêm mười một năm. Ba bệnh, tui với Lành thay nhau ôm ba đi viện. Anh về thăm ba được mấy bữa, anh tính chưa?
Anh Hai không giận. Ảnh chưa bao giờ giận ra mặt. Ảnh chỉ thở ra một hơi, như người lớn mệt mỏi với con nít.
– Anh tính chứ sao không. Út ở nuôi ba, thì Út cũng ở nhà ba, ăn trên đất của ba, hái dừa của ba mà bán. Mười một năm đó Út đâu có mất tiền nhà. Còn tiền viện phí lần sau cùng, một trăm hai chục triệu, ai trả? Anh trả. Út biết không?
Tui không biết. Lần sau cùng ba nằm viện, tui chỉ lo ngồi canh, đút cháo, lau người. Tiền bạc ở quầy thu ngân, tui tưởng bảo hiểm trả gần hết, phần còn lại tui đưa hai chục triệu dành dụm. Hóa ra không phải.
– Anh không kể ra để kể công. – Anh Hai nói. – Anh kể cho Út thấy, ba có lý do của ba. Ba thấy ai gánh được thì ba giao cho người đó.
Ảnh đứng dậy, sửa lại cái nếp áo sơ mi, đặt tờ giấy xác nhận lên trên tờ di chúc.
– Út cứ suy nghĩ. Anh để đây. Mai mốt anh xuống lấy.
Ra tới hàng ba, ảnh quay lại, nói thêm.
– À, Út nhớ. Từ bữa nay, dừa trong vườn là của anh. Út đừng có leo hái nữa nghen. Anh có mướn người rồi. Trái nào Út hái là anh coi như Út lấy đồ của anh.
Anh Hai lái xe đi. Mấy người đàn ông của công ty Phú Đạt cũng đi theo, để lại sau lưng một vườn dừa gốc nào cũng mang một con số đỏ. Cái ổ khóa mới anh Hai không mở ra, chỉ treo lơ lửng trên cổng, móc vào một mắt lưới B40, như chờ đó.
Lành ngồi phịch xuống bậc cửa.
– Ba trăm triệu. – Lành nói, giọng lạc đi. – Mười một năm, ba trăm triệu.
Tui không trả lời. Tui đi ra vườn.
Vườn nhà tui hơn một mẫu rưỡi, chia làm hai khúc. Khúc trong, giáp đường đal, là đất ông nội để lại cho ba, trồng dừa ta lẫn với chuối, với cau. Khúc ngoài, chạy dài ra tới mé sông Hậu, là chỗ ba má trồng dừa sáp, một trăm tám chục cây, thân cây nào cũng cao vượt nóc nhà, tàu lá xòe ra như những bàn tay úp xuống che nắng cho nhau. Gió sông thổi vô lúc chiều xuống nghe xào xạc, hồi nhỏ tui nằm võng nghe riết rồi ngủ quên.
Ở đầu hàng dừa sát mé sông, có một cây dừa thân cong vẹo, nghiêng hẳn ra phía nước, gốc to hơn mọi cây khác, vỏ thân nứt nẻ như da bàn chân người già. Cả xóm gọi nó là cây dừa Bà. Má tui trồng nó năm một chín chín mốt, cây dừa sáp đầu tiên của cái vườn này. Hồi đó dừa sáp còn hiếm, một cây giống bằng cả tháng tiền chợ. Má kể với tui, má đem bán đôi bông tai cưới mới đủ tiền mua.
Trên gốc cây dừa Bà, sơn đỏ còn ướt. Số một.
Tui đứng nhìn con số đó rất lâu. Rồi tui lấy tay quệt. Sơn dầu, không trôi, chỉ nhòe ra thành một vệt đỏ dài, dính đầy lòng bàn tay.
Chiều đó con Hến đi học về, đạp chiếc xe đạp cũ có cái giỏ nhựa, thấy cổng có ổ khóa thì đứng sững, rồi thấy gốc dừa nào cũng có số thì la lên.
– Ba ơi, ai vẽ bậy lên cây dừa của nội vậy?
– Người ta đánh số, con.
– Đánh số chi vậy ba?
Tui không biết trả lời sao. Con Hến chín tuổi, mặt tròn như trái dừa non, tóc cắt ngắn ngang tai vì nó nói tóc dài leo cây vướng. Từ hồi bốn tuổi nó đã theo nội ra vườn, nội gõ trái dừa nào nó cũng ghé tai vô nghe.
– Để coi cây nào cao, cây nào thấp. – Tui nói đại.
Con Hến không tin. Nó nhìn vô lòng bàn tay đỏ lòm của tui, rồi nhìn gốc cây dừa Bà, rồi không hỏi nữa. Nó chạy vô nhà, cất cặp, rồi chạy ra, cầm theo cái giẻ với chai dầu hôi của má nó, ngồi chồm hổm dưới gốc dừa Bà mà chà con số một. Chà tới tối mịt, con số chỉ phai bớt một chút, thành một vệt hồng loang lổ.
Tối đó, tui với Lành ngồi ngoài hàng ba, nhìn ra vườn tối thui. Ngoài sông có chiếc ghe chở lúa chạy ngang, đèn pha quét một vệt sáng qua mấy thân dừa rồi tắt.
– Anh tính sao? – Lành hỏi.
– Tui chưa biết.
– Anh ký đi. – Lành nói, rồi im một hồi. – Em nói vậy chứ em không muốn anh ký. Em chỉ sợ mình cãi không lại ảnh. Ảnh có giấy tờ, có công chứng, có công ty. Mình có cái gì?
Tui nhìn ra cây dừa Bà, chỉ thấy cái bóng đen của nó nghiêng ra mặt sông.
– Mình có cái vườn.
– Cái vườn của ảnh rồi.
Tui không cãi. Tui đứng dậy, đi vô buồng, mở cái tủ gỗ của ba. Trong tủ có mấy bộ đồ bà ba, cái nón nỉ, cây đèn pin, và một hộp bánh bằng thiếc, cái hộp ba dùng đựng giấy tờ. Tui đem ra ván, mở nắp. Cuốn sổ hộ khẩu cũ giờ không còn xài, giấy khai sinh của ba, giấy chứng tử của má, mấy tấm hình cũ. Cái giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không có. Tui lục tới đáy hộp cũng không có.
– Anh Hai giữ rồi. – Lành nói. – Hồi ba nằm viện, ảnh nói đem lên tỉnh làm thủ tục gì đó.
Tui ngồi trên bộ ván ba nằm, nhìn tờ di chúc dưới ánh đèn huỳnh quang. Chữ ký run run của ba. Ba mất đi, chữ của ba còn ở lại đây, mà chữ đó không nhắc tới tên tui một lần nào.
Tui đọc lại câu đó lần thứ ba. Toàn bộ phần quyền sử dụng đất của tôi trong thửa đất số…
Phần của tôi. Tui không hiểu tại sao người ta phải viết chữ "phần". Nếu là của ba hết, sao không viết là toàn bộ thửa đất?
— Hết chương 1 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe