Chương 10: Mùng Một bên gốc dừa Bà
Hai ngày đó tui gõ hơn một ngàn trái dừa.
Việc đầu tiên là đống sáu trăm trái bà Bảy trả về, vẫn nằm dưới gốc dừa chỗ ông Sáu Lắm chất. Tui gõ lại từng trái, lựa ra được ba trăm năm chục trái sáp. Còn thiếu hai trăm rưỡi, phải leo hái thêm.
Tui leo từ lúc trời còn tối, đèn pin cột trên trán, leo tới khi mặt trời lặn sau rặng bần bên kia sông. Ông Sáu Lắm leo cùng, mỗi người một hàng. Hai thằng cháu ông chất dừa lên ba gác chở ra hàng ba nhà tui. Lành nấu cơm, nấu nước, rồi ngồi phụ gom dừa thành đống. Chị Ba xin nghỉ dạy hai buổi, ngồi ghi sổ đếm.
Còn ngồi giữa đống dừa, cầm cái cán dao gỗ me, là con Hến.
Tui gõ một trái, nó gõ một trái. Tui bỏ qua trái, nó bỏ qua trái. Trái nào hai cha con không cùng ý thì để riêng một đống nhỏ ở giữa, gọi là đống "chưa chắc". Đống chưa chắc đó tối nào tui cũng gõ lại, nhìn cuống lại, nghiêng trái dừa ra dưới đèn coi màu vỏ, rồi mới quyết. Có trái tui không quyết được, tui bỏ luôn qua đống nước. Bà Bảy cho quá mười trái. Tui không muốn quá ba.
Tối mười chín, ông Sáu Lắm ngồi coi con Hến gõ, rồi lắc đầu cười.
– Con nhỏ này lớn lên mà làm nghề lựa dừa, tụi già tụi tui đi bán vé số hết.
– Con hổng làm nghề lựa dừa. – Con Hến nói, không ngẩng lên. – Con làm cô giáo như cô Ba.
Chị Ba đang ghi sổ, ngừng bút, nhìn con nhỏ một hồi, rồi cúi xuống ghi tiếp. Tui thấy vai chị run run.
Sáng hai mươi tháng Chạp, xe tải chở sáu trăm trái dừa lên vựa bà Bảy. Lần này anh Hai không đi. Ảnh nhắn cho tui một tin, vỏn vẹn: "Út đi giùm anh." Tui đi.
Thằng Tâm bổ một trăm trái. Hai trái nước. Bà Bảy cầm cục phấn khoanh tròn con số hai, rồi gật đầu, rồi bỏ cục phấn vô túi áo.
– Mười mấy năm, chưa lô nào của mày quá ba trái. – Bà nói. – Ba mày dạy giỏi.
Bà đếm tiền, gói trong giấy báo, đưa cho tui.
– Tiền này là tiền của hợp đồng ông Hai. Mày đưa cho ổng. Còn cái này. – Bà lấy thêm một xấp nhỏ, nhét vô túi áo tui. – Là tiền công lựa. Tao trả mày. Không phải ổng trả. Mày đừng có cãi.
Tui đem gói tiền giấy báo lên nhà anh Hai trên chợ tỉnh. Lần đầu tiên trong mười năm tui bước vô căn nhà ba tầng đó. Chị Hai Kiều mở cửa, nhìn tui, nhìn gói tiền, rồi tránh qua một bên cho tui vô. Anh Hai ngồi ở bàn uống nước, trước mặt là một xấp hồ sơ, tờ nào cũng có con dấu ngân hàng. Ảnh không đếm tiền. Ảnh chỉ nhìn gói giấy báo một hồi, rồi nói:
– Ngồi xuống uống miếng nước, Út.
Tui ngồi xuống. Hai anh em uống nước, không nói gì. Ngoài đường, xe cộ chạy rần rần, người ta đi sắm Tết.
Ngày hai mươi mốt tháng Chạp, tòa chuyển cho cô Trân bản sao lục hồ sơ cấp giấy năm chín chín. Cô gọi tui lên văn phòng, đẩy qua bàn một tờ giấy photo, mực in hơi mờ vì bản gốc đã ẩm mốc.
Tờ đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Nét chữ con gái tròn trịa, nghiêng nghiêng. Mục nguồn gốc sử dụng: phần đất phía trong do cha ruột cho riêng năm 1978; phần đất phía ngoài do vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng của ông Lâm Văn Thiềng năm 1991, bằng tiền chung của hai vợ chồng. Từng chữ y chang tờ giấy pơ-luya trong cái hộp gỗ của má.
Ở cuối đơn có hai chữ ký. Một chữ ký run run của ba. Bên cạnh là chữ ký của má, chữ "Mai" viết hoa, cái chữ M có một vết gạch xóa, viết lại cho đúng chiều.
Tui nhìn cái vết gạch xóa đó rất lâu. Cô Trân không nói gì, bỏ một viên kẹo gừng vô tay tui.
Ngày hai mươi ba tháng Chạp, ngày đưa ông Táo về trời, tòa mở phiên hòa giải lần thứ hai.
Anh Hai tới sớm, ngồi một mình ngoài hành lang. Luật sư Kiên không đi cùng. Ảnh thấy tui với chị Ba, đứng dậy.
– Út, Thơ. Cho anh nói mấy câu trước khi vô.
Ba anh em đứng ở cuối hành lang, cạnh cái cửa sổ nhìn ra cây me tây.
– Anh nói thiệt. – Anh Hai nói, giọng khàn, mắt không nhìn ai. – Anh nợ hai tỷ ba. Ngân hàng một tỷ tám, còn lại nợ người ta. Tiền cọc của Phú Đạt anh lấy trả lãi. Anh tính bán miếng đất mặt sông, trả hết, làm lại từ đầu. Anh tính thằng Út hiền, cho nó mấy trăm triệu là nó ký. Anh tính sai.
Ảnh ngừng một chút.
– Hôm qua anh ngồi với Phú Đạt. Bên đó cần mặt sông để làm bến, mà không cần hết. Cần chừng hai phần ba chiều dài là đủ. Khúc đầu vàm, chỗ cây dừa Bà, nước xoáy, ghe vô khó, họ cũng không muốn. Họ chịu ký lại hợp đồng, bớt diện tích, bớt tiền, gia hạn tới tháng Ba. Anh vẫn trả được nợ ngân hàng. Không dư mà cũng không thiếu.
– Còn nhà? – Tui hỏi.
– Nhà nằm trên khúc ngoài, gần đầu vàm. – Anh Hai nói. – Út lấy nguyên khúc từ nhà ra tới mé sông, có cây dừa Bà, có bốn chục cây dừa sáp. Tính ra thì nhiều hơn phần của Út được chia một chút. Phần dư đó anh không tính. Coi như tiền Út lựa dừa cho anh.
Chị Ba nhìn anh Hai, mắt đỏ hoe.
– Còn phần của em? – Chị hỏi.
– Phần của em, em bán lại cho anh theo giá Phú Đạt trả. – Anh Hai nói. – Còn tiền học thằng Tín thì… thôi. Anh cho nó. Không phải anh cho em.
Phiên hòa giải lần hai kéo dài bốn mươi phút. Ông thẩm phán đầu hói đọc biên bản thỏa thuận từng dòng, chậm rãi, mỗi câu kết bằng chữ "nghen". Ba anh em ký tên. Ông thẩm phán gấp hồ sơ lại, nhìn ba anh em một lúc.
– Ăn Tết vui nghen. – Ông nói. – Năm nay tui mừng.
Chiều hai mươi tám Tết, Lành lên tiệm vàng trên chợ chuộc chiếc vòng. Tiền bảo đảm tòa đã trả lại, cộng tiền công lựa dừa bà Bảy trả, đủ. Ông chủ tiệm người Hoa đeo kính lúp một mắt, mở cái ngăn kéo dưới quầy, lấy ra chiếc vòng gói trong một miếng giấy hồng điều.
– Tui để riêng. – Ông nói. – Vòng có khắc tên, tui không nấu. Biết thế nào cũng có người chuộc.
Đêm giao thừa, nhà tui cúng ông bà ngoài sân, cái bàn nhỏ kê ngay dưới gốc cây dừa Bà, vì Lành nói má thích chỗ đó. Mâm cúng có nồi thịt kho hột vịt, đĩa dưa giá, cặp bánh tét chị Ba gói đem qua. Lành đeo lại chiếc vòng vàng, cứ chốc chốc lại đưa tay sờ, như sợ nó biến mất lần nữa.
Chị Ba ở lại cúng giao thừa với nhà tui. Thằng Tín từ Sài Gòn về, cao nhồng, đeo kính cận, ngồi chơi với con Hến, dạy nó vẽ con gà trên điện thoại. Chồng chị Ba ngồi rót rượu với tui, ít nói, chỉ cười.
Mười hai giờ, bên kia sông người ta bắn pháo hoa, mấy chùm đỏ xanh nở bung trên trời rồi rơi xuống mặt nước, vỡ thành từng mảnh sáng li ti. Con Hến ngước lên coi, rồi quay qua hỏi tui.
– Ba ơi, bác Hai có về ăn Tết không?
– Ba không biết, con.
– Con để dành cho bác Hai một khoanh bánh tét. – Con nhỏ nói, rồi chạy vô bếp, lấy giấy báo gói một khoanh bánh tét, đặt lên bàn thờ nội. – Bác Hai về thì bác ăn.
Chị Ba nhìn khoanh bánh tét trên bàn thờ, rồi nhìn ra sông, không nói gì.
Sáng mùng Một Tết, tui dậy sớm, ra mé sông.
Hàng dừa bây giờ chỉ còn bốn chục cây, chạy từ nhà ra tới đầu vàm. Bảy gốc cây bị cưa vẫn còn đó, mặt gỗ đã khô, đã sẫm màu, tui không đào đi. Phía bên kia, người ta đã cắm cọc bê tông làm ranh, sau rằm tháng Giêng sẽ đổ móng làm bến. Cây dừa Bà vẫn nghiêng ra mặt sông, tàu lá rũ xuống, trên ngọn có ba buồng dừa đã già.
Cái vòng sơn trắng quanh gốc đã phai bớt. Con Hến đã chà nó ba buổi chiều liền bằng dầu hôi, chỉ còn lại một vệt mờ mờ.
Tui đang đứng đó thì nghe có tiếng chân ngoài cổng. Không có tiếng xe hơi. Anh Hai đi bộ vô, mặc áo sơ mi trắng mà không bỏ vô quần, tay cầm một bó nhang với một bịch trái cây.
– Anh đi đò qua. – Ảnh nói, như giải thích. – Lâu rồi không đi đò.
Anh Hai vô nhà thắp nhang cho ba má, đứng trước bàn thờ rất lâu. Con Hến rón rén lại gần, lấy khoanh bánh tét gói giấy báo trên bàn thờ xuống, đưa cho bác Hai, nói con để dành từ hồi giao thừa. Anh Hai cầm khoanh bánh tét, mở lớp giấy báo ra coi, rồi gói lại, cầm trong tay, không nói được câu nào. Rồi ảnh đi ra mé sông, đứng cạnh tui dưới gốc cây dừa Bà. Hai anh em đứng nhìn sông. Nước lớn, phù sa đỏ quạch, lục bình trôi từng đám lớn.
– Út. – Ảnh nói. – Hái cho anh một trái.
Tui leo lên, hái một trái trong buồng già nhất, thả xuống. Anh Hai cầm trái dừa lên, ngắm nghía. Con Hến từ trong nhà chạy ra, đưa cái cán dao gỗ me của nội cho bác Hai.
Anh Hai cầm cái cán dao, lóng ngóng như người lần đầu cầm đũa. Ảnh gõ lên trái dừa ba cái. Cộc, cộc, cộc. Rồi ảnh nghiêng đầu, ghé tai sát xuống, như ba ngày xưa ngồi ngoài hàng ba. Ảnh gõ thêm ba cái nữa. Ảnh nghe một hồi lâu, rồi lắc đầu, ngước lên nhìn tui.
– Anh nghe không ra.
– Sáp đó anh Hai. – Tui nói.
Con Hến chạy vô bếp lấy con dao với cái hũ đường cát. Tui bổ trái dừa ra. Cơm dừa trắng đục, dày, đặc sệt như bột nếp nấu. Tui múc một muỗng, rắc đường, đưa cho anh Hai.
Anh Hai cầm cái muỗng, ăn, rồi đứng im. Gió sông thổi qua tàu lá cây dừa Bà, nghe xào xạc như hồi tui nằm võng ngủ trưa.
– Má hay ăn vầy. – Ảnh nói.
– Ừ.
Ảnh ăn thêm một muỗng nữa, rồi đưa cái muỗng cho con Hến. Con nhỏ múc một muỗng thật to, rắc thật nhiều đường, rồi ngồi chồm hổm dưới gốc cây dừa Bà, ăn ngon lành, chân đạp lên cái vệt sơn trắng mờ mờ mà nó đã chà ba buổi chiều không hết.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe