Chương 2: Một chữ ba sửa trong di chúc
Văn phòng công chứng nằm trên con đường chạy ngang chợ tỉnh, cửa kính, máy lạnh, ghế ngồi chờ bọc nệm xanh. Tui mặc cái áo sơ mi duy nhất còn lành, cái áo mặc đi đám cưới, ngồi chờ từ tám giờ sáng tới mười giờ, hai tay đặt trên đùi như học trò bị kêu lên văn phòng. Người ta ra vô ký giấy mua bán nhà, giấy ủy quyền, giấy tặng cho, ai cũng cầm theo một xấp hồ sơ dày cộm. Tui chỉ có tờ di chúc gấp đôi bỏ trong túi ni lông.
Ông công chứng viên tên Đàm, ngoài sáu mươi, tóc bạc trắng, đeo kính gọng đồi mồi. Ông mời tui vô một phòng nhỏ, rót cho tui ly trà, đọc tờ di chúc, rồi gật đầu.
– Đúng rồi. Tôi là người chứng nhận di chúc này. Ông Võ Văn Lượng. Tôi nhớ ông.
– Dạ. Tui là con út của ổng. Tui muốn hỏi chú… hồi ba tui ký giấy này, ba tui có tỉnh táo không?
Ông Đàm nhìn tui qua cặp kính, không có vẻ gì phật ý.
– Tôi hiểu vì sao anh hỏi. Anh nghe tôi nói thật. Hôm đó tôi xuống tận bệnh viện, vì ông nằm, không đi được. Có bác sĩ điều trị xác nhận tình trạng sức khỏe, có hai người làm chứng. Tôi nói chuyện với ông gần một tiếng. Ông nhớ tên từng đứa con, nhớ số thửa đất, nhớ năm cất nhà, còn hỏi tôi bên chợ tỉnh giá dừa khô bữa nay bao nhiêu. Ông tỉnh táo hơn nhiều người khỏe mạnh tôi gặp ở đây mỗi ngày.
Tui cúi mặt xuống ly trà. Lá trà xanh lơ lửng trong nước, chìm từ từ.
– Hai người làm chứng là ai vậy chú?
– Một người là điều dưỡng ở khoa. Một người là con gái ông, cô Võ Thị Thơ.
Chị Ba tui. Tui ngẩng lên. Ông Đàm thấy mặt tui, ngừng một chút.
– Anh không biết à?
– Dạ không. Chị Ba không nói gì với tui hết.
Ông Đàm lấy lại tờ di chúc, đọc lại một lượt. Rồi ông gõ ngón tay lên đúng cái dòng mà mấy đêm nay tui đọc tới thuộc lòng.
– Tôi không được nói những gì người lập di chúc đã trao đổi riêng với tôi. Đó là nguyên tắc nghề. Nhưng tôi nói được điều này, vì nó là luật, ai hỏi tôi cũng nói. Một người lập di chúc chỉ được định đoạt tài sản của chính mình. Cái gì không phải của mình, thì viết vô di chúc cũng không có giá trị.
– Dạ.
– Di chúc này ghi: phần quyền sử dụng đất của tôi. Anh để ý chữ "phần". Chữ đó do người lập di chúc yêu cầu. Lúc đầu tôi soạn là "toàn bộ thửa đất", ông đọc xong bảo tôi sửa lại. Ông đọc đi đọc lại chữ đó ba lần trước khi ký.
– Tại sao vậy chú?
Ông Đàm tháo kính ra, lấy vạt áo lau tròng, đeo lại.
– Cái đó anh phải tự đi tìm. Tôi chỉ chứng nhận. Anh nên gặp một luật sư.
Tui ra khỏi văn phòng công chứng lúc gần trưa, nắng tháng Mười hắt xuống mặt đường như đổ nước sôi. Tui đứng dưới gốc cây bàng trước cửa, gọi cho Lành.
– Lành ơi, em có quen ai làm luật sư hông?
Lành không quen. Nhưng con nhỏ bạn của Lành bán bánh bò chung chợ có đứa em làm phụ việc cho một cô luật sư trên chợ tỉnh, cô Trân. Lành gọi ba cuộc điện thoại, hai giờ chiều tui ngồi trong văn phòng của cô.
Văn phòng của cô Trân ở trên lầu một tiệm thuốc bắc, leo cầu thang gỗ hẹp, mùi cam thảo với quế bay lên tận nơi. Cô Trân chừng bốn mươi lăm tuổi, người Hoa, tóc búi củ hành, mặc áo bà ba lụa màu cánh sen, nói tiếng Việt rặt giọng miền Tây, thỉnh thoảng chen một chữ Tiều khi nói với bà già bán thuốc dưới nhà. Bàn làm việc của cô chất hồ sơ cao tới cằm, trên góc bàn có một hũ kẹo gừng.
Cô đọc tờ di chúc một lần, chậm, rồi đặt xuống, lấy một viên kẹo gừng bỏ vô miệng.
– Anh Cội, tui hỏi, anh trả lời thiệt nghen. Má anh mất năm nào?
– Dạ, hai ngàn mười lăm.
– Má anh có để lại di chúc gì không?
– Dạ không. Má mất bất ngờ, đang nấu cơm thì té xỉu.
– Miếng đất đó, ba má anh có được hồi nào? Trước hay sau khi cưới nhau?
Tui ngồi nghĩ. Câu hỏi đơn giản mà tui chưa bao giờ nghĩ tới.
– Dạ, khúc trong giáp đường thì ông nội tui cho ba. Cái đó tui biết chắc, ông nội còn sống tui còn nghe ổng nói hoài. Khúc ngoài mé sông… tui không biết. Hồi tui nhỏ, tui nhớ có một năm má khóc, rồi má trồng cây dừa sáp đầu tiên. Má nói má bán đôi bông tai. Nhưng tui không biết bán bông tai để mua cây giống hay để làm gì khác.
Cô Trân gật gù, lấy cây bút bi vẽ lên một tờ giấy nháp một hình chữ nhật, chia làm hai khúc.
– Tui nói anh nghe cho dễ hiểu. Khúc trong, nếu đúng ông nội cho riêng ba anh, thì đó là tài sản riêng của ba anh. Ba anh muốn để cho ai thì để. Di chúc nói để cho anh Hai, thì là của anh Hai, mình hông cãi được.
Cô gạch một đường chéo lên khúc trong.
– Còn khúc ngoài. Nếu khúc ngoài là ba má anh mua chung với nhau sau khi cưới, thì nó là tài sản chung của vợ chồng. Má anh mất, một nửa khúc ngoài là của má anh, thành di sản của má anh. Má anh không để di chúc, thì chia theo pháp luật cho những người thừa kế hàng thứ nhất: chồng, các con. Tức là ba anh, anh Hai, chị Ba, và anh. Mỗi người một phần bằng nhau trong cái nửa đó.
– Mà ba tui mất rồi.
– Ba anh mất thì cái phần ba anh nhận từ má anh, cộng với nửa của ba anh, thành của ba anh. Cái đó ba anh di chúc cho anh Hai được. Nhưng cái phần anh nhận từ má anh, thì không ai di chúc được hết. Phần đó của anh từ ngày má anh mất. Ba anh không cho được, anh Hai không bán được.
Tui nhìn cái hình chữ nhật trên tờ giấy nháp, cái khúc ngoài bây giờ bị cô Trân chia thêm thành mấy ô nhỏ.
– Mà má tui mất mười một năm rồi. Bây giờ đòi còn được không cô?
– Còn. Thời hiệu yêu cầu chia di sản là bất động sản thì ba mươi năm, tính từ ngày người để lại di sản mất. Má anh mất năm mười lăm, anh còn tới mười chín năm.
Cô Trân bỏ thêm một viên kẹo gừng vô miệng, nhai rốp rốp.
– Bây giờ anh hiểu chữ "phần" chưa?
Tui gật đầu. Rồi lắc đầu. Rồi gật đầu.
– Ba tui biết. Ba tui cố ý viết vậy.
– Có thể. Cũng có thể ông công chứng viên cẩn thận. – Cô Trân nhún vai. – Nhưng tui nói cho anh biết trước cái khó, kẻo anh mừng hụt. Cái chữ "phần" không chứng minh được gì hết. Cái mình phải chứng minh là khúc ngoài do ba má anh mua chung, sau khi cưới. Còn nếu bên anh Hai chứng minh được cả miếng đất, khúc trong lẫn khúc ngoài, đều là ông nội cho riêng ba anh, thì phần của má anh bằng không. Lúc đó tờ di chúc kia đúng hết, và anh ra đường.
– Giấy đỏ ghi tên ai vậy cô?
– Anh chưa coi giấy đỏ hả?
– Dạ chưa. Anh Hai tui giữ.
Cô Trân thở dài, lấy ra một tờ giấy trắng, viết mấy dòng.
– Đây là đơn đề nghị cung cấp thông tin đất đai. Anh là người ở trên đất, là con của chủ sử dụng, có quyền xin trích lục. Mai anh đem lên cơ quan đăng ký đất đai, nộp. Có bản trích lục rồi mình mới biết giấy đứng tên ai, cấp hồi nào. Còn cái hồ sơ gốc hồi xin cấp giấy, mấy tờ đơn, mấy tờ xác nhận nguồn gốc đất, cái đó khó xin hơn. Phải có tòa yêu cầu.
Tui nộp đơn sáng hôm sau. Ba ngày sau tui lên lấy. Một cô nhân viên trẻ đưa tui tờ trích lục, mực in còn thơm.
Thửa đất số một trăm bốn mươi hai. Diện tích mười lăm ngàn bốn trăm mét vuông. Cấp năm một chín chín chín. Người sử dụng: hộ ông Võ Văn Lượng.
Chỉ có tên ba. Không có tên má. Không có dòng nào nói đất từ đâu mà có.
Tui cầm tờ trích lục đi xuống cầu thang, chân bước không vững. Tui gọi cho cô Trân, đọc cho cô nghe. Đầu dây im một lúc.
– Giấy cấp cho hộ, đứng tên chủ hộ. Hồi đó nhiều giấy cấp kiểu vậy lắm. – Cô nói. – Nó không nói là đất riêng của ba anh, mà cũng không nói là đất chung. Nó để trống. Mà cái gì để trống thì bên nào nói trước, nói to, bên đó có lợi. Anh về đi. Đừng ký cái gì hết. Mình làm đơn khởi kiện.
Tui chạy xe về tới đầu xóm thì trời đã chiều. Từ xa đã nghe tiếng dao phạt tàu lá lốp bốp, tiếng trái dừa rớt bịch bịch xuống đất mềm.
Cổng vườn mở toang, cái ổ khóa mới treo trên cổng, móc hờ. Trong vườn, một ông già gầy nhom, da đen bóng như cái nồi đồng, đang leo trên ngọn một cây dừa sáp sát mé sông. Ông không dùng thang, không dùng dây đai, chỉ quàng một vòng dây dừa vô hai cổ chân rồi nhún từng nhịp, lên tới ngọn nhanh như con sóc. Ông lấy cái dao quắm móc ngang hông, phạt một buồng dừa, buộc dây, thả từ từ xuống đất.
Cây dừa đó có con số một sơn đỏ, đã bị con Hến chà phai thành một vệt hồng.
Dưới gốc, con Hến đứng khoanh tay, mặt đỏ gay. Lành chạy ra từ trong nhà, kéo con lại.
– Ông kia! – Tui la lên, quăng xe đạp xuống. – Ông hái dừa nhà tui làm gì?
Ông già trên ngọn dừa ngó xuống, không có vẻ gì sợ, cũng không có vẻ gì vui. Ông tụt xuống, chậm rãi, đứng trước mặt tui, thấp hơn tui một cái đầu, cổ chân còn vướng vòng dây dừa.
– Tui là Sáu Lắm, ở bên Phong Phú. Ông Hai Tường mướn tui hái dừa vườn này, hái bán cho vựa bà Bảy Huê. Ổng có đưa giấy hợp đồng. Chú là Út Cội phải hông?
– Đúng là tui.
– Vậy chú biết rồi. – Ông Sáu Lắm gật đầu. – Tui làm công ăn lương. Chú có chuyện gì thì chú nói với ông Hai. Mà tui nói chú nghe, ông Hai ký giao cho bà Bảy sáu trăm trái sáp loại một, trước hai chục tháng Chạp. Bà Bảy kỹ lắm. Ông Hai nói vườn này trái nào cũng sáp. Tui leo dừa bốn chục năm, tui chưa thấy vườn nào trái nào cũng sáp hết.
Ông nhìn buồng dừa mới thả xuống dưới gốc cây dừa Bà, rồi nhìn tui.
– Chú ở vườn này từ nhỏ. Chú biết trái nào sáp, trái nào không, hông?
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe