Chương 6: Tờ đơn lem mực trong hộp gỗ của má
Chị Ba ngồi trên bộ ván gõ giữa nhà, chỗ ba nằm. Lành pha một ấm trà, rồi kéo con Hến vô buồng, đóng cửa lại, nhưng tui biết vợ tui đứng sau cánh cửa đó.
Cái hộp gỗ đặt giữa hai chị em. Nó nhỏ cỡ cái hộp bánh in, gỗ cẩm lai đã ngả màu nâu đen, nắp có chạm một nhánh mai bốn bông, cái khóa đồng xỉn mốc. Chị Ba lấy trong túi áo ra một cái chìa khóa đồng nhỏ xíu, xâu vô sợi chỉ đỏ.
– Hộp của má. – Chị nói. – Của hồi môn bà ngoại cho má. Má đựng mấy thứ má quý.
– Sao chị giữ?
– Ba đưa chị. – Chị Ba nhìn cái hộp, không mở. – Bữa ba ký di chúc ở bệnh viện, ông công chứng về rồi, ba kêu chị lại gần. Ba nói: "Cái hộp của má tụi bây, tao để trong tủ thờ, dưới cái lư. Mày lấy về cất. Khi nào thằng Út cần thì đưa nó." Chị hỏi ba sao không đưa thẳng Út, ba nói: "Đưa bây giờ thì nó nghĩ tao tính chuyện chết."
Chị Ba tra chìa vô ổ khóa. Cái khóa kêu một tiếng tạch khô khốc. Chị mở nắp.
Bên trong có mùi long não với mùi giấy cũ. Trên cùng là một tấm hình đen trắng, mép răng cưa, đã ố vàng. Một người đàn bà trẻ mặc áo bà ba, quần đen, tóc búi, đứng cạnh một cái cây dừa con mới cao tới ngang hông, tay cầm cái thùng tưới. Đằng sau là mé sông, là một dãy cây bần. Má tui. Má hồi ba mươi mấy tuổi, đang cười, cái cười hở cái răng khểnh mà tui không còn nhớ.
Sau lưng tấm hình có hàng chữ viết bút mực tím: Cây dừa sáp đầu tiên. Đất mới. Tháng Chạp năm chín mốt.
– Đất mới. – Tui đọc thành tiếng.
– Ừ. Đất mới. – Chị Ba gật đầu. – Út còn nhỏ quá nên không nhớ. Hồi đó khúc mặt sông là đất của ông Thiềng, ông Lâm Văn Thiềng, người Hoa, làm lò lu ở đầu vàm. Năm chín mốt ổng bán lò, dọn lên Sài Gòn ở với con, bán luôn miếng đất mé sông. Ba má mua. Tiền mua là tiền dành dụm của hai người, ba bán hai mùa dừa ta, má bán heo, má bán đôi bông tai bà ngoại cho hồi cưới. Còn thiếu một chút, má đi vay hụi.
– Chị nhớ bữa má bán đôi bông tai. – Chị Ba nói tiếp, giọng chậm lại. – Chị đi theo má lên tiệm vàng trên chợ. Đôi bông tai hình giọt nước, vàng y, bà ngoại đeo cho má bữa đám cưới. Má tháo ra, để lên mặt kính, rồi ông chủ tiệm cân, rồi đếm tiền. Má cầm tiền xong thì không đi về liền. Má đứng ngoài cửa tiệm, ngó vô cái tủ kính một hồi lâu, rồi quay lưng đi, không ngó lại nữa. Tới bến đò thì má khóc. Má khóc không ra tiếng, chỉ có nước mắt chảy. Chị hỏi má sao khóc, má nói: "Đất thì để lại cho con cháu được, chớ bông tai thì đeo có mình má."
Tui ngồi im, nghe chị kể chuyện mà tui không có mặt, chuyện về một người má mà tui biết khi bà đã già.
– Chiều đó má mua cây dừa giống, ôm về trồng ngay đầu đất mới, sát mé sông. Ba nói trồng sát nước vậy gió chướng nó quật ngã. Má nói kệ, cho nó đứng nhìn qua sông. Cây đó đó Út. Cây dừa Bà.
Chị Ba lấy tấm hình ra, đặt lên ván. Bên dưới là một tờ giấy nhỏ, giấy pơ-luya mỏng như cánh ve, gấp tư. Chị mở ra, vuốt phẳng.
– Cái này mới quan trọng.
Đó là một tờ đơn viết tay, nét chữ con gái tròn trịa, nghiêng nghiêng, mực xanh đã phai. Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Bên dưới phần khai về thửa đất có một mục ghi "Nguồn gốc sử dụng". Ở đó, nét chữ tròn trịa ấy viết:
"Phần đất phía trong (giáp đường) do cha ruột là ông Võ Văn Thới cho riêng năm 1978. Phần đất phía ngoài (giáp sông Hậu) do vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng của ông Lâm Văn Thiềng năm 1991, bằng tiền chung của hai vợ chồng."
Tui đọc, rồi đọc lại. Rồi tui ngẩng lên nhìn chị Ba.
– Chữ của chị.
– Chữ của chị. – Chị Ba gật đầu, nước mắt chảy xuống mà giọng vẫn đều. – Năm chín chín xã làm giấy đỏ đồng loạt, bắt mỗi hộ nộp đơn. Ba mắt kém, má không biết viết nhiều, chị đang học sư phạm năm hai, về nhà nghỉ hè, ba má kêu chị viết giùm. Chị viết tờ đầu bị lem mực, phải viết lại tờ khác nộp lên xã. Tờ lem này má giữ. Má nói: "Để đó, sau này có ai hỏi thì mình có cái coi lại." Má cẩn thận vậy đó Út. Tờ chị nộp lên xã, chị viết y chang tờ này, từng chữ, ba với má cùng ký tên ở dưới. Chị nhớ rõ, vì má ký chữ "Mai" mà chữ M má viết ngược, chị phải chỉ cho má viết lại.
Tui cầm tờ giấy pơ-luya lên, đưa ra ánh đèn. Ở góc dưới, chỗ lem mực, có một vệt xanh loang ra như một đám mây nhỏ.
– Tờ chị nộp lên xã… bây giờ còn không?
– Chị không biết. – Chị Ba lắc đầu. – Luật sư bên anh Hai nói lũ năm hai ngàn làm ngập xã. Có thể mất. Có thể còn. Nhưng tờ này thì còn. Mà chị còn. Chị là người viết.
Ngoài sân, gió chướng giật mạnh, tàu dừa va nhau rào rào. Tui nghĩ tới phòng hòa giải trưa nay, tới chị Ba ngồi co người lại mà nói: hồi đó tui còn nhỏ.
– Sao trưa nay chị không nói?
Chị Ba lau nước mắt bằng mép khăn rằn.
– Chị hèn, Út. – Chị nói. – Thằng Tín còn một năm nữa ra trường. Anh Hai đóng học cho nó ba năm rồi. Anh Hai không nói ra, nhưng chị biết, chị mở miệng ở tòa thì năm cuối thằng Tín nghỉ học. Chị ngồi đó, nghe ông luật sư nói ông Chín Đực làm chứng, chị muốn đứng dậy la lên. Ông Chín biết rõ ông Thiềng bán đất cho ba má. Ông Chín còn uống rượu mừng bữa làm giấy tay với ông Thiềng. Ổng tám mươi bốn tuổi rồi, mắt mờ, người ta đọc cho ổng nghe cái gì ổng ký cái đó. Chị biết hết. Chị ngồi im.
– Rồi sao bây giờ chị qua?
Chị Ba nhìn tấm hình má đứng cạnh cây dừa con.
– Vì cái phong bì anh Hai nhét vô giỏ xe chị. – Chị nói. – Trưa nay về nhà, chị để nó trên bàn, không mở. Chị ngồi nhìn nó tới tối. Thằng Tín gọi điện về, hỏi má sao giọng má lạ vậy. Chị nói không có gì. Rồi nó kể nó mới được thực tập ở một công ty, có lương, đủ đóng tiền trọ. Nó nói: "Má khỏi lo tiền học năm cuối nữa nghen má, con xin được học bổng một nửa rồi, nửa còn lại con tự đóng được." Chị cúp máy, chị khóc một trận. Con chị nó lớn rồi, nó tự đứng được. Còn chị, bốn mươi tám tuổi, đứng không được.
Chị lấy trong túi ra cái phong bì dày, vẫn còn dán kín, đặt cạnh cái hộp gỗ.
– Chị sẽ trả lại cái này cho anh Hai. Rồi chị đi tòa, chị nói.
Tui ngồi im. Lành mở cửa buồng bước ra, ngồi xuống bên cạnh chị Ba, ôm vai chị. Chị Ba gục đầu vô vai vợ tui, khóc thút thít như con nít.
Một hồi lâu, chị Ba ngồi dậy, lau mặt.
– Còn chuyện này nữa, Út. Chuyện ba.
– Chuyện gì chị?
– Út có biết tại sao ba để hết phần của ba cho anh Hai không?
– Anh Hai nói ba thấy ảnh gánh được.
Chị Ba cười, cái cười méo xệch.
– Gánh. Ba để cho anh Hai để anh Hai tự gánh cái nợ của ảnh. Hai năm nay anh Hai kẹt mấy lô đất trên tỉnh, nợ ngân hàng, nợ người ta, có bữa người ta tới tận bệnh viện kiếm ảnh. Ảnh vô quỳ bên giường ba, khóc, nói nếu không có miếng đất này để xoay thì ảnh đi tù. Ba thương ảnh. Ba nói với chị: "Phần của tao thì tao cho thằng Hai, để nó tự lo cái nợ của nó, khỏi kéo thằng Út vô. Còn phần của má tụi bây thì tao không đụng tới. Tao không có quyền đụng. Thằng Út có phần của nó." Ba biết hết, Út. Ba cố ý. Ba sửa chữ "toàn bộ" thành chữ "phần", chị ngồi bên cạnh nghe.
Tui nhìn lên bàn thờ. Tấm hình ba đội nón nỉ, mặt nhăn như trái táo khô, mắt nheo lại vì nắng. Hồi chụp tấm đó ba la tui quá trời vì bắt ba đứng chờ lâu.
Ba biết. Ba không nói với tui một lời nào. Ba chỉ sửa một chữ trong tờ giấy, rồi tin rằng chữ đó sẽ tự lên tiếng.
– Sao ba không nói với tui?
– Ba nói ba tính nói. – Chị Ba thở dài. – Ba nói đợi ba ra viện, ba kêu ba anh em về ngồi lại, ba nói một lần cho rõ. Ba nói ba không muốn tụi bây kiện nhau. Rồi ba không ra viện.
Ngoài cổng có ánh đèn pha quét qua. Một chiếc xe hơi chạy chậm lại, rồi dừng. Tiếng máy xe vẫn nổ đều đều.
Chị Ba giật mình, nhìn ra. Tui cũng nhìn ra. Qua mấy mắt lưới B40, dưới ánh đèn đường vàng vọt, tui thấy chiếc xe màu đen của anh Hai đậu sát cổng, đèn pha vẫn bật, rọi thẳng vào chiếc xe đạp điện của chị Ba dựng dưới gốc cây dừa Bà.
Cửa xe mở. Anh Hai bước xuống, đứng trong vệt đèn pha, nhìn chiếc xe đạp điện. Rồi ảnh nhìn vô nhà.
– Chị Ba. – Ảnh kêu, giọng không lớn, mà cả xóm im lặng đến mức nghe rõ từng chữ. – Khuya rồi, chị qua đây làm chi vậy?
Chị Ba đứng dậy. Hai tay chị run, nhưng chị gấp tờ giấy pơ-luya lại, bỏ vô hộp gỗ, đóng nắp, khóa lại, đưa cái hộp cho tui.
– Út cất đi. – Chị nói nhỏ. – Để chị ra.
— Hết chương 6 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe