AI Truyện
Cây dừa sáp má trồng ở Cầu Kè

🏠 Gia đình & vả mặt

Ổ bánh mì nguội ngoài hành lang tòa

Cây dừa sáp má trồng ở Cầu Kè · Chương 5/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Ổ bánh mì nguội ngoài hành lang tòa

Sáng mười tám tháng Mười một, tui với cô Trân tới tòa sớm, ngồi chờ ở cái băng ghế sắt ngoài hành lang. Hành lang dài hun hút, sơn vàng, có cái bảng dán lịch xét xử, có mấy người đàn bà ôm con nhỏ ngồi chờ, có một ông già chống gậy cứ đi tới đi lui đọc từng tờ thông báo.

Anh Hai tới sau tui mười phút. Ảnh thấy tui, đi thẳng lại, ngồi xuống bên cạnh như không có chuyện gì, đưa cho tui một ổ bánh mì thịt còn nóng gói trong giấy báo.

– Út ăn sáng chưa? Anh mua dư một ổ.

Tui nhìn ổ bánh mì. Hồi tui còn nhỏ, anh Hai đi học trên chợ về, mỗi lần có tiền dư đều mua cho tui một ổ bánh mì như vầy, chia đôi, anh một nửa tui một nửa, ngồi ăn ngoài bến đò. Ảnh nhớ hay ảnh không nhớ, tui không biết.

– Tui ăn rồi.

– Ừ. – Anh Hai không ép, để ổ bánh mì lên băng ghế giữa hai anh em. – Út biết không, anh không muốn ra tới đây. Anh em mình ra tòa, người ta cười. Ba mà biết thì ba buồn.

– Ba biết đó anh Hai.

Anh Hai nhìn tui, như không hiểu tui nói gì. Rồi luật sư của ảnh tới, ảnh đứng dậy đi qua. Ổ bánh mì nằm lại trên băng ghế, nguội dần, tới lúc vô phòng hòa giải vẫn không ai đụng tới.

Phòng hòa giải của tòa khu vực nhỏ, có cái quạt trần kêu cành cạch mỗi vòng quay, cửa sổ nhìn ra một cây me tây già. Tui ngồi một bên bàn với cô Trân. Bên kia là anh Hai với một ông luật sư mặc vest xám, tên Hồ Trung Kiên, người trên Cần Thơ xuống, nghe nói chuyên làm mấy vụ đất đai. Chị Ba ngồi ở đầu bàn, chiếc ghế dành cho người có quyền lợi liên quan, mặc áo dài xanh đi dạy, hai tay đan vào nhau đặt trên đùi.

Thẩm phán là một người đàn ông chừng năm mươi, đầu hói, giọng miền Tây chậm rãi, mỗi câu đều kết bằng chữ "nghen" như đang nói chuyện với bà con trong xóm.

– Hôm nay mình hòa giải. – Ông nói. – Anh em ruột trong nhà với nhau, tui mong mình nói chuyện được, khỏi ra tới xét xử. Ra tới xét xử thì ai thắng ai thua, anh em cũng mất nhau nghen.

Không ai nói gì. Quạt trần vẫn kêu cành cạch.

Thẩm phán mời tui trình bày. Tui nói không được trôi, vấp lên vấp xuống, nhưng tui nói đủ: khúc đất mặt sông là ba má mua sau khi cưới, má trồng cây dừa sáp đầu tiên ở đó, má mất không để di chúc, tui xin chia phần của má theo pháp luật. Cô Trân nói thêm phần lý lẽ, nói chữ "phần" trong di chúc, nói chuyện tòa đã có văn bản đề nghị cơ quan đất đai cung cấp hồ sơ cấp giấy năm chín chín.

Rồi tới lượt luật sư Kiên.

Ông Kiên nói không vội. Ông lấy ra từng tờ giấy, đặt lên bàn, như người bày bài tiến lên.

– Thứ nhất, giấy chứng nhận cấp cho hộ ông Võ Văn Lượng, không có tên bà Trần Thị Mai. Thứ hai, bản tự khai của ông Nguyễn Văn Đực, tám mươi bốn tuổi, người sống cạnh thửa đất từ trước giải phóng, xác nhận toàn bộ thửa đất có nguồn gốc khai hoang của cha ông Lượng, sau đó cho riêng ông Lượng. Đất được cho riêng thì là tài sản riêng, dù sau đó ông Lượng có cưới vợ. Thứ ba, chính ông Lượng trước khi mất, lúc hoàn toàn minh mẫn, có công chứng viên chứng nhận, đã định đoạt toàn bộ phần quyền của mình cho con trưởng. Một người cha biết rõ đất của mình nhất.

Ông dừng lại, uống một ngụm nước suối.

– Về chữ "phần" mà luật sư bên kia nhắc tới. Đó là cách viết thông thường của công chứng viên khi đất cấp cho hộ, để tránh tranh chấp với các thành viên khác trong hộ. Không có ý nghĩa gì đặc biệt.

– Còn hồ sơ cấp giấy năm chín chín? – Cô Trân hỏi.

Ông Kiên mỉm cười.

– Tòa cứ yêu cầu. Chúng tôi cũng muốn thấy. Nhưng tôi xin lưu ý, trận lũ năm hai ngàn ở vùng này đã làm ngập trụ sở xã cũ hơn một tháng. Nhiều hồ sơ địa chính trước năm hai ngàn bị hư hỏng, thất lạc. Nếu không còn hồ sơ, thì giấy chứng nhận và lời người làm chứng là căn cứ duy nhất.

Thẩm phán gật đầu, ghi chép. Cô Trân cũng ghi chép, nhưng tui thấy ngòi bút của cô ngừng lại một chút ở chữ "lũ năm hai ngàn".

Năm hai ngàn tui mười sáu tuổi. Tui nhớ trận lũ đó. Nước lên tới bậc thềm nhà, ba má kê ván ngủ trên gác, ghe xuồng chạy ngang qua sân. Tui không nhớ trụ sở xã có ngập không.

– Chị Thơ. – Thẩm phán quay qua chị Ba. – Chị là con của ông Lượng bà Mai, là người có quyền lợi liên quan. Chị có ý kiến gì về nguồn gốc khúc đất mặt sông không nghen?

Chị Ba ngẩng lên. Tui nhìn chị. Anh Hai cũng nhìn chị. Hai cái nhìn đó gặp nhau ở giữa mặt chị, và tui thấy chị như co người lại.

– Dạ… tui không có ý kiến.

– Chị có biết đất đó do ai mua, ai cho không?

– Dạ… hồi đó tui còn nhỏ.

Hồi đó chị Ba mười ba tuổi. Tui bảy tuổi. Tui nhìn chị, mà chị không nhìn tui. Chị nhìn xuống hai bàn tay đan nhau trên đùi, mấy ngón tay trắng bệch vì siết.

Anh Hai thở ra một hơi nhẹ, gần như không nghe được. Ảnh tựa lưng ra ghế.

Thẩm phán hỏi tui có chịu nhận đề nghị của bên anh Hai không. Đề nghị lần này cao hơn: năm trăm triệu, tui rút đơn, ký xác nhận, dọn đi trước hai mươi ba tháng Chạp. Cô Trân nhìn tui, không nói gì, để tui quyết. Tui lắc đầu.

– Vậy là hòa giải không thành nghen. – Thẩm phán thở dài, gấp hồ sơ. – Tòa sẽ tiếp tục thu thập chứng cứ. Có kết quả từ cơ quan đất đai, tòa sẽ mở phiên tiếp theo.

Ra khỏi phòng, cô Trân kéo tui ra một góc hành lang, cạnh cái bình nước lọc.

– Anh Cội, tui nói thiệt. Bữa nay mình thua một keo. Ông Kiên này giỏi. Ổng biết trước mình sẽ trông vô hồ sơ năm chín chín, nên ổng nói trước chuyện lũ, để nếu hồ sơ mất thì tòa không bất ngờ. Ổng có lời người làm chứng già nhất xóm. Mình thì có cái gì? Có lời anh kể má anh khóc, má anh trồng cây dừa.

– Còn chị Ba?

– Chị Ba anh không nói. – Cô Trân lắc đầu. – Người có quyền lợi liên quan mà nói không biết, thì tòa coi như không biết.

Tui đi ra sân tòa. Nắng trưa chói chang trên mấy dãy xe máy đậu sát nhau. Ở góc sân, dưới gốc cây me tây, anh Hai đang đứng nói chuyện với chị Ba. Tui đứng khuất sau cái cột cổng, nhìn.

Anh Hai lấy trong cặp ra một phong bì dày, đưa cho chị Ba. Chị Ba không cầm. Anh Hai nói gì đó, nghiêng đầu, cười, rồi nhét cái phong bì vô cái giỏ xe đạp điện của chị. Chị Ba đứng đó, nhìn cái phong bì trong giỏ xe, như nhìn một con rắn đang ngủ.

Rồi anh Hai lên xe hơi chạy đi. Chị Ba vẫn đứng đó, dưới bóng cây me tây, một mình. Một hồi lâu chị mới lấy cái phong bì ra, cầm trên tay, không mở. Rồi chị bỏ nó lại vô giỏ, dắt xe ra cổng.

Chị đi ngang qua tui. Chị thấy tui. Hai chị em đứng cách nhau một sải tay, giữa trưa nắng cổng tòa.

– Út. – Chị nói, giọng khàn. – Tiền học năm cuối của thằng Tín. Anh Hai đóng từ năm nhứt. Bốn năm, gần hai trăm triệu. Chị dạy học lương bảy triệu, chồng chị làm hồ, chị lấy đâu ra.

Tui không nói gì. Tui không biết nói gì.

– Chị không xin Út hiểu cho chị. – Chị Ba nói tiếp, mắt đỏ hoe. – Chị chỉ nói cho Út biết vì sao.

Chị dắt xe đi. Cái phong bì trong giỏ xe nảy lên theo mỗi ổ gà.

Chiều đó tui về nhà, không nói với Lành chuyện ở tòa. Lành cũng không hỏi. Nhìn mặt tui là vợ tui biết. Tui ra vườn, đứng ở cái hàng rào lưới B40 ngăn giữa nhà tui với vườn dừa mà bây giờ không được bước vô. Bên kia hàng rào, ông Sáu Lắm đang chất mấy buồng dừa lên ba gác. Ông nhìn tui, giơ tay chào, rồi lắc đầu, chỉ vô mấy buồng dừa. Tui hiểu. Ông lựa không được. Ông chất hết.

Tối đó con Hến làm bài tập Lịch sử, hỏi tui trận lũ lớn nhất ở miền Tây là năm nào. Tui nói năm hai ngàn. Con nhỏ hỏi hồi đó ba mấy tuổi, có sợ không. Tui nói không sợ, vì ba má nội cho ba ngồi trên gác, má nội nấu cháo trắng với hột vịt muối, ngon lắm.

– Má nội có sợ không ba?

– Má nội sợ một chuyện thôi. – Tui nói, rồi chợt khựng lại. – Má nội sợ nước vô cái tủ thờ. Má nội ôm cái hộp giấy tờ lên gác, gói trong ba lớp bao ni lông, cột dây thun kín mít.

Con Hến chép vô tập: lũ năm hai ngàn, má nội ôm hộp giấy lên gác.

Tui ngồi nhìn dòng chữ của con, bỗng thấy lạnh ở sống lưng. Cái hộp giấy tờ má ôm lên gác năm đó không phải cái hộp thiếc của ba trong tủ. Cái hộp má ôm là một cái hộp gỗ nhỏ có khóa đồng. Từ hồi má mất, tui chưa thấy lại cái hộp đó.

Tám giờ tối, có tiếng xe đạp điện dừng ngoài cổng. Rồi tiếng gõ nhẹ lên khung sắt, ba tiếng, ngừng, ba tiếng nữa. Kiểu gõ cửa của ba. Hồi nhỏ ba dạy mấy chị em, đi đâu về khuya thì gõ vậy, để trong nhà biết người quen.

Tui cầm đèn pin ra. Ngoài cổng là chị Ba. Chị không mặc áo dài nữa, mặc bộ đồ bộ bông cũ, đầu trùm khăn rằn, như sợ ai thấy. Dưới chân chị, trong cái giỏ xe đạp điện, có một cái hộp gỗ nhỏ, khóa đồng đã xỉn đen.

– Mở cổng cho chị. – Chị Ba nói. – Đừng để ai thấy. Đừng nói anh Hai.

— Hết chương 5 —

Mục lục Cây dừa sáp má trồng ở Cầu Kè

  1. 1Cái ổ khóa trên cổng vườn10 phút đọc
  2. 2Một chữ ba sửa trong di chúc10 phút đọc
  3. 3Cây dừa số một9 phút đọc
  4. 4Cái cán dao gỗ me của ba10 phút đọc
  5. 5Ổ bánh mì nguội ngoài hành lang tòa9 phút đọc
  6. 6Tờ đơn lem mực trong hộp gỗ của má9 phút đọc
  7. 7Ông Chín Đực khai lại9 phút đọc
  8. 8Bốn mươi mốt trái nước9 phút đọc
  9. 9Sáng mười tám tháng Chạp9 phút đọc
  10. 10Mùng Một bên gốc dừa Bà10 phút đọc

Về truyện này

Cây dừa sáp má trồng ở Cầu Kè là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →