Chương 9: Hai chỉ vàng trong áo bông của mệ
Mệ nội mất vào một đêm tháng Chạp năm chín mốt, đúng như kiếp trước.
Tôi đã biết trước, và tôi đã làm mọi thứ có thể. Mùa đông năm ấy tôi bắt mệ nằm trong buồng kín gió, tôi nấu cháo gừng, tôi đưa mệ lên trạm xá khi mệ bắt đầu ho. Cô y sĩ Hường nghe phổi, lắc đầu, bảo mệ tám mươi bảy tuổi rồi, phổi yếu, giữ ấm cho mệ là chính. Chị Thoa đang học năm thứ hai trường y sĩ trên Vinh, cuối tuần nào cũng đạp xe về, mang theo thuốc, mang theo cái ống nghe mượn của trường, đặt lên ngực mệ, mặt nghiêm như bác sĩ thật.
Mệ vẫn đi. Mệ đi trong giấc ngủ, nằm nghiêng, tay còn nắm cái ống nhổ bằng ống bơ sữa. Có những số phận tôi không đổi được. Tôi học được điều ấy vào sáng hôm đó, khi mạ và tôi lau người cho mệ.
Mạ cởi cái áo bông vá ba miếng mệ mặc suốt hai mùa đông. Lúc gấp áo, mạ sờ thấy một chỗ cộm ở vạt lót. Mạ dừng tay.
– Cái chi đây?
Tôi quỳ bên cạnh, im lặng. Mạ lấy cây kéo, rạch đường chỉ. Một cái túi vải nhỏ rơi ra. Trong túi là hai chỉ vàng, gói giấy hồng điều, nằm nguyên như hôm mạ khâu vào, hai năm trước.
Mạ ngồi nhìn hai chỉ vàng trên lòng bàn tay rất lâu. Rồi mạ khóc. Không phải khóc vì vàng. Mạ khóc vì đến tận lúc này mạ mới nhớ ra mạ đã giấu nó ở đây, và suốt hai mùa đông mệ đã ủ ấm cho nó bằng chính cái thân gầy của mệ.
– Mệ có biết không, Nhút? – Mạ hỏi.
– Con không biết, mạ ạ.
Đó là lần đầu tiên tôi trả lời mạ một câu "con không biết" mà là thật.
Hai chỉ vàng ấy, mạ đem làm đám tang cho mệ. Một đám tang tử tế, có kèn, có trống, có cỗ cho cả xóm, có bia đá khắc tên. Kiếp trước, đám tang mệ chỉ có một cái quan tài gỗ tạp và nồi cháo trắng. Cả xóm đến đông đủ. Mệ Tịu ngồi cạnh linh cữu từ sáng đến tối, không chịu về.
Năm chín mốt cũng là năm tỉnh Nghệ Tĩnh tách làm hai. Bọ nghe tin trên đài, gật gù bảo: "Rứa là mình thành người Nghệ An". Mạ bảo: "Thì xưa nay mình vẫn người Nghệ". Hai người cãi nhau cả buổi tối về chuyện ấy, như cãi chuyện một người họ hàng xa vừa đổi tên.
Năm chín hai, anh Đường cưới chị Sen.
Anh về hẳn từ công trường Vinh, mang theo cái nghề sửa máy anh học lỏm được của một ông thợ chuyên sửa máy trộn bê tông. Nhà tôi bán mực một nắng hai mùa, cộng với tiền anh dành dụm, mua lại cái máy nổ cũ của ông Khanh. Đúng cái máy anh từng muốn mua bằng một thùng thuốc nổ. Bây giờ anh mua bằng tiền mực, tiền xi măng, tiền mồ hôi. Đám cưới có xe đạp làm lễ vật, cái xe đạp mới tinh màu xanh, bọ chị Sen dắt đi một vòng quanh xóm cho cả xóm xem.
Đêm tân hôn, anh Đường ra hiên ngồi với tôi một lúc. Anh xòe hai bàn tay ra dưới ánh đèn.
– Nhút, – anh nói, – anh nhớ cái hôm mi lật tay anh lên coi. Trên thuyền nan. Mi lật đi lật lại như lật con cá. Anh chưa bao giờ hỏi mi răng.
– Anh đừng hỏi.
– Ừ. – Anh nói. – Anh không hỏi.
Năm chín ba, nhà tôi dỡ cái nhà tranh, dựng ba gian nhà gạch, mái ngói. Cái kệ gỗ nhỏ cạnh bàn thờ được bọ tháo ra, đóng lại vào tường nhà mới, đúng độ cao cũ. Cái đài vỏ da nâu lại nằm đó.
Cũng năm chín ba, thằng Khoái mười bốn tuổi, và người ta bắt đầu nói về đá đỏ.
Từ cuối năm chín hai, cả vùng đồng bằng ven biển đã rỉ tai nhau về những bãi đá quý trên núi Quỳ, phía tây, ngược sông Hiếu, cách nhà tôi hơn trăm cây số. Người ta bảo dưới lòng suối ở đó, đất đỏ lẫn những viên đá màu hồng, màu tím, màu đỏ như tiết gà, có người đào được một viên to bằng đốt ngón tay, bán được cả cây vàng. Trai làng kéo nhau đi từng đoàn. Đi tay không, về có người đi xe máy. Có người không về.
Kiếp trước, thằng Khoái đi vào tháng Ba năm chín ba, theo nhóm của anh Tạo. Tháng Bảy, mùa mưa, một cái hầm đào sâu dưới lòng suối bị sập. Người ta đào ba ngày mới lên được bốn người. Thằng Khoái là người thứ tư.
Tôi đã nghĩ suốt ba năm làm sao để tháng Ba năm chín ba, thằng Khoái không đi. Tôi đã thử cấm. Nó mười bốn tuổi, nó chỉ cười. Tôi đã thử dọa. Nó bảo chị còn sợ hơn mạ. Tôi đã thử nhờ bọ. Bọ nói một câu mà tôi biết bọ nói đúng: "Con người ta mười bốn tuổi, mi trói hắn được một năm, không trói được cả đời."
Nhưng có một điều tôi đã nhìn thấy, mà kiếp trước tôi không có mặt để nhìn.
Từ cái hôm đổi con Ô Tía, thằng Khoái mê cái đài. Nó không dám đụng vào cái đài của bọ, nhưng nó đi khắp xóm xin những cái đài hỏng, những cái đồng hồ chết, những cái quạt điện cháy mô tơ. Nó tháo ra, xếp từng con ốc lên tờ giấy báo, nhìn hàng giờ. Nó đã sửa được cái núm gãy trên cái đài nhựa đen của mệ Tịu bằng một mẩu dây đồng và một miếng nhựa nấu chảy. Mệ Tịu nghe được bản tin trưa lần đầu sau hai năm, mệ cho nó năm quả trứng gà.
Tháng Hai năm chín ba, tôi đạp xe lên Vinh một mình. Tôi tìm vào con ngõ hẹp có cái cột điện nghiêng, đứng trước hiệu sửa đài rộng bằng hai cánh cửa.
Ông già đeo kính lúp vẫn ngồi đó, già hơn, lưng còng hơn. Ông ngẩng lên nhìn tôi.
– Con bé đi như người quen đường. – Ông nói. – Ba năm rồi. Lớn quá.
– Ông nhớ cháu à?
– Ông nhớ người, không nhớ đài. – Ông cười. – Cái đài vỏ da nâu chuộc được chưa?
Tôi kể. Ông nghe, gật gù. Khi tôi nói đến chuyện thằng Khoái đổi con gà chọi, ông dừng tay.
– Thằng nhóc gầy gầy hôm nớ đi với mi đó à?
– Dạ.
– Nó muốn học nghề à?
– Nó chưa biết là nó muốn, ông ạ. – Tôi nói. – Nhưng cháu biết.
Ông già tháo kính lúp, lau bằng vạt áo. Ông nói ông không nhận học trò đã lâu, mắt ông kém rồi, tay run rồi. Nhưng ông có một cái đài hỏng mà ông sửa mãi không được, một cái đài cũ bắt sóng ngắn của một ông thuyền trưởng gửi từ năm ngoái. Thằng nhóc nào sửa được nó thì ông nhận.
Tôi mang cái đài hỏng về. Tôi đặt nó trước mặt thằng Khoái, không nói gì.
Thằng Khoái ngồi với cái đài ấy chín ngày. Ăn cũng ngồi, ngủ gục cũng ngồi. Nhóm của anh Tạo đã gói đồ, đã hẹn ngày đi, ngày mười tám tháng Hai. Anh Tạo sang nhà tôi hai lần gọi nó. Thằng Khoái ậm ừ, mắt không rời bảng mạch.
Ngày mười bảy tháng Hai, tôi nghe từ trong buồng nó vọng ra một tiếng rè rè, rồi một giọng nói tiếng nước ngoài, rồi tiếng nhạc, rõ mồn một.
Thằng Khoái chạy ra hiên, cầm cái đài giơ lên, mặt sáng như đèn măng sông.
– Chị Nhút! Chị Nhút! Nó kêu rồi! Nó kêu rồi!
Sáng hôm sau, ngày mười tám, nhóm anh Tạo đi. Thằng Khoái đứng ở đầu ngõ nhìn theo. Nó cầm cái đài trong tay. Nó không đi theo. Chiều hôm ấy, nó đạp xe lên Vinh với tôi, mang cái đài trả cho ông già kính lúp.
Ông già bật đài lên nghe, rồi tắt đi, rồi mở nắp sau ra, soi kính lúp vào mấy mối hàn. Ông nhìn rất lâu.
– Mối hàn xấu như con giun bò. – Ông nói. – Nhưng chỗ hỏng tìm đúng. Ông tìm mãi không ra.
Ông đẩy cái ghế đẩu nhỏ về phía thằng Khoái.
– Mai lên, sáu giờ sáng. Đến muộn thì về.
Tháng Bảy năm chín ba, mùa mưa, tin dữ về đến xóm tôi.
Một cái hầm đào dưới lòng suối trên núi Quỳ bị sập sau ba ngày mưa to. Bảy người ở dưới. Hai người là trai xóm trên. Anh Tạo được kéo lên sau hai ngày, gãy một chân, sống. Hai người kia không về.
Hôm tin ấy về, mạ đang ở chợ. Người ta chạy ra chợ báo, không nói rõ, chỉ nói "con trai xóm bãi ngang đi đá đỏ chết hầm". Mạ bỏ cả gánh cá, chạy về nhà, chân không, mặt trắng như vôi. Mạ chạy vào sân, gọi "Khoái ơi! Khoái ơi!" bằng cái giọng tôi chưa nghe bao giờ.
Đúng lúc ấy, ở đầu ngõ, có tiếng chuông xe đạp.
Thằng Khoái đạp xe từ Vinh về, áo trắng lấm dầu máy, sau yên xe buộc một cái hộp các tông. Nó dừng xe ở cổng, nhìn mạ, ngơ ngác.
– Mạ răng rứa?
Mạ không trả lời. Mạ chạy tới, ôm lấy nó, ôm cả cái xe đạp, ôm cả cái hộp các tông, ôm chặt đến mức cái xe đổ kềnh ra, hai mẹ con ngã ngồi giữa ngõ cát. Thằng Khoái mười bốn tuổi, cao hơn mạ rồi, nằm trong lòng mạ, không hiểu chuyện gì, nhưng không giãy ra.
Tôi đứng ở hiên nhìn. Trong cái hộp các tông đổ nghiêng, tôi thấy lấp ló một cái đài mới, vỏ nhựa màu kem, tem giấy dán còn nguyên.
Tối đó, sau bữa cơm, thằng Khoái đặt cái đài mới lên cái kệ gỗ, cạnh cái đài vỏ da nâu.
– Đài ni em ráp. – Nó nói. – Ông Kính Lúp cho em linh kiện, em ráp ba tuần. Em ráp cho bọ. Cái đài cũ yếu rồi, mai mốt hỏng thì bọ có cái ni.
Bọ nhìn hai cái đài đặt cạnh nhau trên kệ rất lâu. Rồi bọ với tay, bật cái đài mới lên. Tiếng nhạc hiệu bản tin thời tiết biển vang lên trong căn nhà gạch, rõ, trong, không một tiếng rè.
Bọ tắt đài đi. Bọ không khen. Bọ chỉ nói:
– Cái kệ nhỏ quá. Mai bọ đóng cái to hơn.
Thằng Khoái quay mặt đi chỗ khác. Tôi thấy hai vành tai nó đỏ ửng.
Đêm đó tôi ngủ một giấc dài không mộng mị. Sáng ra, mạ đánh thức tôi bằng một câu mà mạ chưa nói bao giờ:
– Nhút, dậy. Có người hỏi mi ngoài cổng. Ông Ba Thục. Ông về rồi.
— Hết chương 9 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không