Chương 5: Moi khô hàn miệng bằng ngọn nến
Moi về vào một buổi sáng cuối tháng Ba âm lịch, và cả bãi ngang đỏ hồng như ai rắc phẩm.
Người ta không cần ra khơi. Moi đi thành đàn sát bờ, những con tôm nhỏ xíu, trong veo, chỉ dài bằng đốt ngón tay út, đặc quánh trong nước đến mức một người đàn bà cầm cái vợt lưới mắt nhỏ đứng ngập nước tới đùi, quét một đường là được nửa rổ. Trẻ con, ông già, đàn bà, ai cũng ra. Cả xóm lội nước, khom lưng, tiếng gọi nhau ơi ới. Moi đổ vào thúng, vào rổ, vào cả những cái nón lật ngửa.
Mạ tôi đứng giữa đám ấy, quần xắn tới bẹn, áo buộc vạt ngang hông, vợt nhanh như múa. Kiếp trước tôi đã quên mạ đẹp thế nào lúc làm việc.
Moi nhiều quá thì rẻ. Đến trưa, lái buôn ở đường cái xuống mua với giá chỉ bằng một phần ba hôm qua. Phần lớn nhà trong xóm đem moi về làm mắm, trộn muối, cho vào chum sành ủ, mấy tháng sau ăn dần. Phần còn lại đem phơi trên những tấm phên tre, phơi khô rồi bán cho lái buôn theo cân, rẻ như bèo.
Tôi ngồi xổm cạnh cái phên moi đang phơi, bốc một nhúm lên ngửi. Mùi thơm của biển, mặn và ngọt.
Ở căng tin công ty, tôi từng mua tôm khô loại nhỏ theo gói, mỗi gói trăm gram, đóng túi ni lông có hàn miệng, bán ở mấy sạp đặc sản quanh bến xe. Người đi xa mua về làm quà. Người ta trả gấp năm lần giá lái buôn vì cái túi gọn, sạch, cầm lên được.
Tôi nói với mạ ý định của tôi vào buổi tối, lúc mạ đang ngồi nhặt rác lẫn trong moi khô dưới ánh đèn dầu.
– Mạ cho con một thúng moi.
– Làm chi?
– Con rang lên với ít muối, phơi lại cho khô giòn, sàng sạch vỏ vụn. Rồi con chia vào túi ni lông nhỏ, mỗi túi một lạng. Chủ nhật con với chị Thoa đón xe khách ra ga Vinh bán cho người đi tàu.
Mạ dừng tay.
– Ga Vinh? Mi biết ga Vinh ở mô không?
– Con biết.
– Mi đi Vinh bao giờ?
Tôi không trả lời được. Kiếp trước tôi đã đi qua ga Vinh không biết bao nhiêu lần, trên những chuyến tàu vào Nam ra Bắc, mỗi lần Tết về làm giỗ bọ. Lần nào tàu dừng ở Vinh tôi cũng thấy mấy bà bán hàng đứng ngoài cửa sổ, chìa vào những gói kẹo, những chai nước, những túi lạc rang. Lần nào tôi cũng không mua, vì tôi sợ mua là sẽ nhớ nhà.
– Chị Thoa biết đường. – Tôi nói. – Chị đi thi học sinh giỏi ở Vinh rồi.
Chị Thoa ngồi ở góc phản ôn bài dưới cùng một ngọn đèn, ngẩng lên.
– Chị đi được. – Chị nói. Rồi chị nhìn mạ. – Mạ ơi, con đi được. Bán được thì lấy tiền mua thuốc cho con Ớt. Tai nó lại chảy mủ rồi.
Mạ nhìn con Ớt đang ngủ, nghiêng đầu sang phải, nhúm bông vàng lấp ló trong tai trái. Mạ thở dài.
– Ừ. Một thúng thôi đó.
Ba ngày sau tôi có bốn mươi túi moi khô.
Tôi rang moi trong cái chảo gang to nhất nhà, lửa liu riu bằng vỏ dừa khô, đảo liên tục bằng đôi đũa cả cho đến khi moi chuyển từ màu hồng nhạt sang màu cam đỏ, giòn, thơm cả xóm. Mệ Tịu bên nhà ngó sang hỏi: "Con Nhút rang chi mà thơm rứa?" Tôi bốc cho mệ một nắm. Mệ nhai, gật gù, cái miệng móm mém.
Túi ni lông tôi mua ở chợ xã, loại túi mỏng trong suốt, cắt sẵn. Tôi cân từng túi bằng cái cân tạ nhỏ của mạ, mỗi túi một lạng, bỏ vào một nhúm moi rồi gập miệng túi lại hai lần. Rồi tôi thắp một cây nến, cầm miệng túi đã gập lướt nhanh qua ngọn lửa. Ni lông co lại, dính vào nhau thành một đường mỏng, cứng. Lướt chậm quá thì cháy thủng, lướt nhanh quá thì không dính. Mười cái đầu tiên tôi làm hỏng bảy. Đến cái thứ hai mươi, tay tôi đã quen.
Thằng Khoái ngồi xem, mắt tròn xoe, trong lòng ôm con gà chọi lông đen ánh tía mà nó gọi là Ô Tía. Con gà ấy nó xin từ quả trứng của nhà ông Khanh, ấp dưới nách mệ nội, nuôi bằng cơm nguội trộn ớt, tối nào cũng tắm cho nó bằng nước gừng. Cả xóm biết thằng Khoái thương con Ô Tía hơn thương cái cặp sách nó chưa có.
– Chị Nhút ơi, chị học hàn túi ở mô rứa?
– Chị tự nghĩ ra.
– Chị nói dối. – Nó nói. – Chị làm như người làm cả đời.
Tôi xoa đầu nó, không đáp.
Sáng chủ nhật, hai chị em đón chuyến xe khách đầu tiên ở ngoài đường cái, lúc bốn giờ rưỡi sáng. Chiếc xe cũ kỹ, sơn xanh đã tróc thành từng mảng, ghế ngồi là những tấm ván phủ da rách, trên nóc chất đầy bao tải, lồng gà, và cả một cái xe đạp. Người ta ngồi chen chúc, mùi dầu máy, mùi mồ hôi, mùi cá khô. Chị Thoa ôm cái thúng moi vào lòng, tôi ngồi lọt thỏm giữa một bà buôn vải và một ông già ôm con gà trống.
Ga Vinh lúc bảy giờ sáng đã đông nghịt. Tôi nhớ nó khác, có mái che rộng, có biển đèn, có ghế inox. Nhưng ga Vinh năm chín mươi là một dãy nhà thấp sơn vàng, sân ga lát gạch đỏ vỡ lở, những người bán hàng ngồi dọc hàng rào, mỗi người một cái thúng hoặc một cái mẹt. Bán nước chè xanh. Bán kẹo cu đơ. Bán bánh mướt gói lá chuối. Bán cam. Bán lạc rang.
Chuyến tàu Thống Nhất chạy từ Hà Nội vào dừng ở Vinh khá lâu. Khi tàu vừa vào, mọi người bán hàng đứng bật dậy như một đàn cò, lao về phía những ô cửa sổ đang mở.
Chị Thoa đứng sững. Tôi kéo tay chị.
– Đi chị. Chị cầm thúng, em rao.
Tôi chạy dọc theo đoàn tàu, giơ một túi moi lên cao, rao bằng cái giọng mà hai mươi lăm năm gọi công nhân xếp hàng lấy cơm đã luyện cho tôi:
– Moi khô bãi ngang đây! Moi rang sẵn, ăn liền, nấu canh, rang với mỡ! Mua về làm quà cho mạ, cho mệ!
Ở ô cửa sổ thứ ba, một người đàn ông mặc áo sơ mi trắng thò tay ra.
– Bao nhiêu một túi, cháu?
– Năm trăm đồng, chú ạ.
– Đắt hè. Moi ngoài chợ rẻ bằng nửa.
– Ngoài chợ chú phải mua cả cân, chú cầm về tàu thì moi vương cả toa. – Tôi nói. – Túi ni hàn kín, bỏ túi áo cũng được, mang vô tới Sài Gòn chưa ỉu.
Ông cười, móc ra hai tờ năm trăm.
– Lấy hai túi. Con bé ni khéo miệng.
Đến khi tàu kéo còi chạy, chúng tôi đã bán được mười tám túi.
Một bà già bán chè xanh ngồi ở góc sân ga nãy giờ vẫn nhìn chúng tôi. Bà gầy, đội cái nón lá rách vành, cái ấm tích to đặt trong cái giỏ ủ bằng rơm. Khi tàu đi, bà vẫy tôi lại.
– Con nhà ai? – Bà hỏi.
– Dạ, con nhà bọ Kỷ ở bãi ngang.
– Ở đây chỗ ni là chỗ của con Hoài bán kẹo. – Bà chỉ cái góc chúng tôi vừa đứng. – Nó đi đẻ mấy tháng, mai mốt nó về là nó chửi tụi bây. Mi ra đứng phía cuối đoàn tàu, toa chót. Ở đó toàn toa ghế cứng, người nghèo đi, nhưng không ai bán. Người nghèo cũng mua quà cho mạ.
Tôi cúi đầu cảm ơn bà. Chị Thoa móc trong túi ra một túi moi đưa bà. Bà xua tay, rồi cầm, cho vào giỏ.
– Tau tên Cửu. – Bà nói. – Chủ nhật sau ra, tau giữ chỗ cho.
Chuyến tàu thứ hai, chúng tôi đứng ở toa chót. Bà Cửu nói đúng. Những người đi toa ghế cứng ngồi chen trên những băng ghế gỗ, hành lý chất tới trần, mặt mũi mệt mỏi, nhưng khi tôi giơ túi moi lên, một bà mẹ trẻ ôm con mua ba túi, nói: "Về Phú Yên mạ chồng tôi thích ăn moi". Một anh bộ đội mua hai túi. Một ông già mua một túi, đếm từng đồng xu lẻ.
Đến trưa, cái thúng trống trơn. Bốn mươi túi. Hai mươi nghìn đồng.
Hai chị em ngồi xuống bậc thềm sân ga, chia nhau một cái bánh mướt. Chị Thoa đếm tiền ba lần. Tay chị run.
– Nhút, – chị nói, – bằng mạ bán cá cả tuần.
– Dạ.
– Mi nghĩ ra cái ni từ khi mô?
Tôi nhìn ra những đường ray loang loáng nắng.
– Chị ơi, chị muốn học y sĩ thật không?
Chị Thoa sững lại. Rồi chị cúi xuống, nhìn mấy tờ tiền trên đùi.
– Chị muốn. – Chị nói, rất nhỏ. – Chị muốn từ năm lớp tám. Hồi con Ớt mới đẻ, mạ băng huyết, chị chạy lên trạm xá gọi cô Hường. Cô Hường đến, chị đứng ngoài cửa nhìn cô làm. Từ hôm đó chị muốn.
– Thì chị học.
– Lấy tiền mô?
– Từ cái thúng ni. – Tôi nói. – Một tuần bốn mươi túi. Hết mùa moi thì làm cá cơm khô. Hết cá cơm thì làm mực một nắng. Biển bãi ngang không bao giờ hết cái để bán.
Chị Thoa nhìn tôi một lúc lâu. Rồi chị gấp tiền lại, nhét vào túi áo ngực, cài kim băng.
– Rứa thì trước hết, – chị nói, – mình đưa con Ớt đi khám tai.
Chủ nhật tuần sau, chúng tôi mang theo con Ớt.
Bệnh viện tỉnh nằm trên một con đường rợp bóng cây, cổng sơn trắng, sân đầy người ngồi chờ. Khoa tai mũi họng ở tầng hai một dãy nhà cũ. Ông bác sĩ già, đeo cái gương tròn trên trán, soi vào tai con Ớt rất lâu.
– Viêm tai giữa lâu ngày. – Ông nói. – Màng nhĩ thủng một lỗ nhỏ. Để lâu nữa thì điếc hẳn. Ai nhét bông vào tai nó?
Chị Thoa đỏ mặt. Tôi cúi đầu.
– Ở nhà cháu không biết, bác ạ.
Ông bác sĩ thở dài. Ông kê đơn, dặn cách nhỏ thuốc, dặn giữ tai khô, dặn tuyệt đối không nhét bông bẩn, dặn tái khám sau hai tuần. Chị Thoa ghi lại từng chữ vào cuốn vở, nắn nót như chép bài.
Lúc ra khỏi phòng khám, chị Thoa hỏi ông bác sĩ một câu tôi không ngờ:
– Bác ơi, học y sĩ thì có phải học giải phẫu không bác?
Ông bác sĩ nhìn chị qua cặp kính, cái nhìn có chút ngạc nhiên rồi chút vui.
– Có. Cháu sợ à?
– Cháu không sợ. – Chị nói.
Đêm đó về đến nhà, con Ớt ngủ ngoan trong lòng mạ, tai trái đã được lau sạch, nhỏ thuốc. Mạ nghe chị Thoa kể, im lặng, rồi đi ra chuồng lợn, nơi giờ chỉ còn một con lợn con mới mua, đứng một mình trong bóng tối.
Sáng hôm sau, tôi đang ngồi hàn túi ở hiên thì nghe tiếng ồn ngoài ngõ. Tiếng con gái cười, tiếng trẻ con chạy, tiếng ai đó gọi to: "O Kiều về! O Kiều về rồi!"
Cây nến trong tay tôi nghiêng đi. Miệng túi ni lông cháy thủng một lỗ đen, mùi khét bốc lên.
— Hết chương 5 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không