AI Truyện
Cái đài vỏ da nâu của bọ

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Bản tin lúc năm giờ chiều

Cái đài vỏ da nâu của bọ · Chương 8/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Bản tin lúc năm giờ chiều

Mùa hè năm ấy trôi qua nhanh như nước rút.

Hết moi thì có cá cơm. Cá cơm luộc nước muối rồi phơi trên phên, khô cong, trắng bạc, tôi đóng túi hàn nến như đóng moi. Bà Cửu ở ga Vinh giữ cho tôi một góc ở cuối sân ga, mỗi chủ nhật tôi bán hết ba chục túi. Đến tháng Sáu, mạ bắt đầu theo tôi ra ga. Mạ đứng nhìn tôi rao một lúc, rồi mạ cũng giơ túi lên, rao bằng cái giọng bán cá ở chợ xã mà cả xóm vẫn trêu là to hơn loa xã.

Chị Thoa đi thi vào cuối tháng Sáu dương lịch. Tôi theo chị lên Vinh, ngồi chờ ngoài cổng trường suốt hai buổi, ôm cái cặp lồng cơm nắm muối vừng. Thi xong, chị đi ra, mặt tái mét. Tôi hỏi làm bài được không, chị chỉ lắc đầu, rồi gật đầu, rồi bảo: "Không biết". Kiếp trước tôi chưa bao giờ thấy chị đi ra từ một phòng thi.

Con Ớt tái khám hai lần. Lần thứ hai ông bác sĩ đeo gương tròn bảo màng nhĩ đã liền được một nửa. Con Ớt về nhà, đứng giữa sân, lấy tay bịt tai phải lại, rồi bảo thằng Khoái đứng ở cổng gọi tên nó thật nhỏ. Thằng Khoái gọi. Con Ớt quay lại, cười toét.

Chị Thoa đặt mua một cái đài ở cửa hàng bách hóa trên Vinh. Người bán hàng ghi tên chị vào một cuốn sổ, bảo khi nào có hàng thì báo. Tháng Sáu không có. Tháng Bảy không có. Tháng Bảy âm lịch, chị lên hỏi lần thứ ba, người ta bảo đợt hàng mới bị chậm, chưa biết khi nào.

Bọ không nhắc đến cái đài. Mỗi tối chín giờ, bọ vẫn ngồi ra hiên, đúng chỗ ấy, hút một điếu thuốc lào, nhìn ra biển. Rồi bọ sang nhà mệ Tịu. Nhà mệ Tịu có một cái đài cũ của ông chồng đã mất, cái đài vỏ nhựa đen, chạy lúc được lúc không. Bọ ngồi nghe nhờ, vặn nhỏ cho khỏi phiền. Bọ giữ lời hứa với tôi. Đêm nào chưa nghe đài, bọ không ra khơi.

Thằng Khoái hai lần ôm con Ô Tía ra đến bến đò cửa lạch rồi lại quay về. Lần thứ hai tôi bắt gặp nó ngồi khóc sau đống lưới. Tôi ngồi xuống cạnh nó, không nói gì. Nó lau mặt, bảo: "Em chưa đi được, chị ạ. Mai em đi". Tôi nói: "Không cần đâu Khoái". Tôi nói thật lòng. Tôi không muốn đổi một thứ nó thương lấy một thứ tôi đã đánh mất.

Ngày mười tám tháng Tám âm lịch năm ấy trời đẹp như tranh.

Biển xanh ngắt, phẳng lì, không một gợn sóng bạc đầu. Trời cao, mây trắng mỏng như sợi bông kéo. Gió hầu như không có, cái nóng oi ả đến bất thường, nóng đến mức mấy con chó trong xóm nằm thè lưỡi dưới gầm thuyền. Mùa mực thu đang vào. Đàn ông cả xóm dậy từ trưa sửa lại đèn măng sông, chuẩn bị ra khơi câu mực đêm.

Anh Đường từ công trường ở Vinh về nghỉ ba ngày. Anh đen hơn, gầy hơn, hai bàn tay chai sạn vì xi măng. Anh đứng cùng bọ vá lại cái buồm cói.

Tôi ngồi ở hiên nhìn trời, và lòng tôi lạnh dần.

Trời đẹp quá. Kiếp trước, chị Thoa viết trong thư: "Hôm nớ trời đẹp lắm, không ai nghĩ có bão". Tôi đọc câu ấy năm mười sáu tuổi, gập thư lại rất nhanh. Bây giờ nó trở lại trong đầu tôi, rõ từng chữ.

– Bọ ơi, – tôi gọi, – tối ni bọ ra à?

– Ra. – Bọ nói, không ngẩng lên. – Mực đang lên. Ba thuyền nhà ông Khanh với nhà anh Lợi đi từ chiều rồi. Tối ni bọ với anh Đường ra.

– Bọ chưa nghe đài.

– Chín giờ bọ sang mệ Tịu nghe.

– Đài nhà mệ Tịu hôm qua hỏng rồi bọ ạ. – Tôi nói. Tôi biết, vì chính tôi đã sang mượn mệ hôm qua để nghe bản tin trưa, và nó chỉ rè rè. – Mệ bảo cái núm vặn bị gãy.

Bọ ngừng tay. Bọ nhìn trời. Trời xanh như ngọc.

– Thì sang nhà ông Khanh.

– Nhà ông Khanh đi ăn cưới ở Vinh từ hôm qua, khóa cửa rồi bọ.

Tôi nghe giọng mình run. Bọ nghe thấy. Anh Đường nghe thấy. Hai bố con nhìn nhau.

– Con Nhút, – bọ nói, chậm rãi, – mi biết chi?

Tôi muốn nói. Nhưng tôi không biết. Đó là sự thật đáng sợ nhất. Tôi không biết hôm nay có phải hôm nớ không. Tôi chỉ biết tháng Tám, trời đẹp, không có đài.

– Con không biết. – Tôi nói. – Con chỉ xin bọ một điều. Bọ đã hứa với con là chưa nghe đài thì không ra. Bọ giữ lời hứa đi bọ.

Bọ nhìn tôi rất lâu. Anh Đường đứng sau lưng bọ, tay vẫn cầm cái kim khâu buồm.

– Bọ ạ, – anh Đường nói, – con Nhút nói thì nghe nó. Năm nay nó nói chi đúng nấy.

Bọ cúi xuống, khâu nốt mũi buồm. Bọ không nói ra hay không ra.

Đúng lúc ấy tôi nhận ra thằng Khoái không có ở nhà. Tôi chạy ra chuồng gà. Cái lồng tre của con Ô Tía mở toang, trống không.

Tôi đứng giữa chuồng gà, và tôi hiểu.

Từ nhà tôi ra bến đò cửa lạch đi đường tắt dọc bờ biển là bảy cây số. Qua đò, từ bến bên kia đến nhà ông Sáu Mực thêm một cây. Đi bộ không nghỉ, một đứa mười một tuổi ôm một con gà, mất gần hai tiếng. Bây giờ là hai giờ chiều.

Tôi chạy ra đầu ngõ, nhìn về phía con đường cát chạy dọc biển. Con đường trắng xóa nắng, vắng tanh.

Ba giờ. Bốn giờ. Thuyền nhà ông Khanh và nhà anh Lợi đã thành ba chấm nhỏ ngoài khơi. Mấy thuyền khác trong xóm đang được kéo xuống. Bọ và anh Đường đã kéo thuyền nhà tôi ra sát mép nước, nhưng chưa đẩy xuống. Bọ ngồi trên mạn thuyền, hút thuốc lào, nhìn trời.

Trời vẫn đẹp. Nhưng phía đông nam, tận chân trời, đã có một dải mây màu tím sẫm, mỏng như nét bút chì kẻ, mà người không để ý thì không thấy.

Bốn giờ năm mươi phút, tôi thấy một chấm nhỏ trên con đường cát.

Chấm nhỏ ấy chạy. Chạy xiêu vẹo, ngã xuống, đứng dậy, chạy tiếp. Tôi chạy ra đón. Thằng Khoái lao vào tôi, người ướt sũng mồ hôi, mặt đỏ tía, hai đầu gối trầy rướm máu. Nó ôm trước ngực một cái bọc vải. Nó không nói được. Nó chỉ dúi cái bọc vào tay tôi.

Tôi mở ra. Cái đài vỏ da nâu. Vết xước hình chữ thập ở góc.

– Con... Ô Tía... – Thằng Khoái thở hổn hển. – Ông Sáu... ông chịu đổi. Ông bảo ông vừa đặt được cái đài mới... ông bảo nể em đi bộ...

Tôi không kịp ôm nó. Tôi chạy. Tôi chạy ra bãi, cái đài trong tay, chạy tới chỗ bọ ngồi trên mạn thuyền. Bọ đứng bật dậy khi thấy cái đài.

Bọ không hỏi. Bọ cầm lấy, kéo ăng ten, xoay núm. Tiếng rè rè. Tiếng nhạc hiệu. Năm giờ chiều.

Giọng người đọc tin không còn đều đều như mọi ngày. Nó nhanh hơn, gấp hơn:

"...Tin bão khẩn cấp. Hồi mười sáu giờ chiều nay, vị trí tâm bão ở vào khoảng... sức gió mạnh nhất vùng gần tâm bão cấp mười, giật trên cấp mười... Dự báo trong mười hai giờ tới, bão di chuyển nhanh theo hướng tây bắc... vùng biển từ Thanh Hóa đến Quảng Bình gió mạnh dần lên cấp tám, cấp chín... Đêm nay bão có khả năng đổ bộ vào đất liền các tỉnh từ Thanh Hóa đến Quảng Bình... Đề nghị tàu thuyền đang hoạt động trên biển khẩn trương tìm nơi trú tránh...".

Cả bãi im phắc. Mấy người đàn ông đang đẩy thuyền gần đó đứng sững lại. Có người nghe được, có người chưa. Bọ vặn đài to hết cỡ, giơ cao lên trên đầu, rồi gầm lên bằng cái giọng mà tôi chưa bao giờ nghe bọ dùng:

– Bão! Bão đêm ni! Kéo thuyền lên! Kéo hết lên!

Cái bãi ngang nổ tung như tổ ong bị chọc.

Người ta chạy. Thuyền đang đẩy xuống thì kéo ngược lên. Đàn bà chạy về nhà gọi chồng con. Trẻ con khóc. Anh Đường nhảy lên thuyền nhà ông Tịnh đang định ra khơi, lôi cái mái chèo khỏi tay ông.

– Còn ba thuyền ngoài kia! – Ai đó hét. – Thuyền ông Khanh, thuyền anh Lợi!

Bọ quay sang anh Đường:

– Đường! Mi với tau ra doi cát. Đốt lửa.

Tôi hiểu ngay. Hồi nhỏ tôi từng nghe mệ nội kể: thời chưa có đài, mỗi khi thấy trời chuyển bão, người làng đốt một đống lửa thật to trên đầu doi cát, chỗ mũi Rồng, khói đen bốc cao, thuyền ngoài khơi trông thấy thì biết là gọi về. Cái lệ ấy đã bỏ từ khi có đài.

– Con chạy lên xã! – Tôi hét với bọ. – Con bảo xã bật loa!

Bọ gật đầu. Bọ và anh Đường ôm theo mấy bó rơm, một can dầu hỏa, chạy dọc doi cát. Tôi chạy lên con đường cát về phía trụ sở xã, sáu cây số, chân trần.

Tôi không biết mình chạy bao lâu. Tôi chỉ nhớ gió bắt đầu nổi. Gió ngược, đẩy vào mặt tôi những hạt cát rát như kim. Những hàng phi lao hai bên đường bắt đầu reo, rồi rít, rồi gào. Bầu trời phía biển chuyển từ xanh sang xám, từ xám sang tím đen, nhanh như ai kéo một tấm màn.

Ở trụ sở xã, anh thường trực đang ngồi ăn cơm. Tôi đứng ở cửa, thở không ra hơi, chỉ nói được hai chữ: "Tin bão". Anh ngẩng lên, nhìn ra cửa sổ, nhìn bầu trời, rồi buông đũa.

Mười phút sau, cái loa phóng thanh trên ngọn cột trước trụ sở, cái loa mà xóm tôi chỉ nghe nó đọc thông báo nộp thuế, vang lên khắp các xóm. Giọng anh thường trực run run đọc lại bản tin bão. Rồi đọc lại. Rồi đọc lại lần nữa.

Lúc tôi về đến bãi, trời đã tối sập. Gió rít. Biển gầm. Trên đầu doi cát, một đống lửa cháy rừng rực, ngọn lửa bị gió quật nghiêng hẳn về một bên như mái tóc người chạy. Dưới chân đống lửa, những bóng người cầm đuốc đứng chờ.

Đến tám giờ tối, chiếc thuyền thứ nhất cập bãi. Thuyền ông Khanh. Đến tám giờ rưỡi, chiếc thứ hai. Đến chín giờ kém mười lăm, khi sóng đã cao ngang đầu người, chiếc thuyền thứ ba, thuyền anh Lợi, nghiêng ngả lao vào bãi, bị một con sóng hất ngang, lật úp ngay mép nước. Mười cánh tay lao ra. Ba người trên thuyền được kéo lên, ướt sũng, ho sặc sụa, nhưng sống.

Đêm đó cả xóm trú trong trường cấp một của xã, ngôi nhà gạch duy nhất ở gần. Gió gào thét suốt đêm. Mái tôn trường rung bần bật. Ở góc phòng học, mạ ôm con Ớt, mệ nội ngồi nhai trầu như không có chuyện gì, chị Thoa ôm cuốn vở ghi tiền moi. Thằng Khoái ngủ gục trên đùi anh Đường, hai đầu gối băng bằng mảnh áo của anh.

Bọ ngồi tựa lưng vào tường, cái đài vỏ da nâu đặt trên đùi, tay đặt trên vỏ da. Bọ không ngủ. Thỉnh thoảng bọ lại bật đài lên nghe một chút, rồi tắt đi cho đỡ tốn pin.

Gần sáng, gió dịu dần. Tôi bò tới ngồi cạnh bọ.

– Bọ ơi.

– Ừ.

– Con xin lỗi bọ.

Bọ quay sang nhìn tôi. Trong ánh đèn dầu leo lét, tôi thấy bọ nhíu mày.

– Xin lỗi chi?

Tôi không trả lời được. Tôi chỉ dựa đầu vào vai bọ. Vai bọ cứng như mạn thuyền, mùi thuốc lào, mùi muối biển. Bọ không hỏi thêm. Bọ đưa tay xoa đầu tôi, một lần, hai lần, rồi bật đài lên.

"...Bão đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới...".

Trời sáng, cả xóm kéo nhau về. Mái tranh nhà tôi bay mất một nửa, cái chuồng lợn đổ, nhưng con lợn con vẫn đứng run run trong góc. Ba chiếc thuyền nan nằm nguyên trên cát. Mạ đứng giữa sân, nhìn cái mái, rồi bật cười, cười đến chảy nước mắt.

Thằng Khoái đi ra chuồng gà, đứng nhìn cái lồng tre trống không rất lâu. Tôi đến đứng cạnh nó.

– Chị Nhút, – nó nói, không quay lại, – mai mốt lớn, em lên núi đào đá đỏ. Người ta bảo trên nớ một viên to bằng hạt ngô là mua được cả con trâu. Em mua lại con Ô Tía.

Nó nói như nói chuyện đi chợ. Còn tôi đứng đó, giữa cái sân đầy lá phi lao gãy, và thấy cơn bão vừa đi qua chưa phải là cơn cuối cùng.

— Hết chương 8 —

Mục lục Cái đài vỏ da nâu của bọ

  1. 1Cái đài vỏ da nâu11 phút đọc
  2. 2Cuốn sổ gửi tiền bìa xanh10 phút đọc
  3. 3Cái thùng dầu trong chái lưới10 phút đọc
  4. 4Rạng sáng ở rạn đá9 phút đọc
  5. 5Moi khô hàn miệng bằng ngọn nến10 phút đọc
  6. 6Người đàn bà áo bà ba lụa10 phút đọc
  7. 7Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh9 phút đọc
  8. 8Bản tin lúc năm giờ chiều11 phút đọc
  9. 9Hai chỉ vàng trong áo bông của mệ9 phút đọc
  10. 10Bản tin cuối cùng của năm9 phút đọc

Về truyện này

Cái đài vỏ da nâu của bọ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →