AI Truyện
Cái đài vỏ da nâu của bọ

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Cái đài vỏ da nâu

Cái đài vỏ da nâu của bọ · Chương 1/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 1: Cái đài vỏ da nâu

– Nhút! Dậy! Thuyền bọ về rồi, mi còn nằm đó à?

Tiếng mạ chọc thủng giấc ngủ như cái dùi chọc thủng bao tải. Tôi mở mắt và thấy mái tranh. Không phải trần thạch cao của căn phòng trọ ở Bình Dương, không phải cái quạt trần kêu cành cạch tôi định thay từ mùa mưa năm ngoái. Là mái tranh, thấp, đen bồ hóng, một dải nắng lọt qua chỗ thủng rơi đúng xuống chân tôi.

Tôi nằm trên tấm phản gỗ, đắp cái chăn bông vá ba miếng, mùi chăn là mùi cá phơi, mùi khói rơm và mùi tóc con Ớt. Con Ớt đang nằm sát nách tôi, miệng hé, thở khò khè, cái tai trái lót một nhúm bông vàng khè.

Tôi nhìn nhúm bông ấy rất lâu. Ba mươi bảy năm sau, con Ớt ngồi trong phòng khách nhà nó ở Vinh, nghiêng đầu sang phải mỗi lần ai nói chuyện, vì tai trái nó không nghe được nữa. Nó bảo tôi: hồi bé chị cứ lấy bông nhét cho em, chẳng ai đưa đi trạm xá cả.

– Nhút! – Mạ quát lần nữa, lần này đã đứng ở cửa. – Mi có dậy không thì tau múc gáo nước lạnh vô đó.

Mạ tôi năm ấy bốn mươi hai tuổi. Tôi nhớ chắc, vì tháng trước tôi vừa về làm giỗ đầu cho mạ, người ta đọc tuổi mạ trong văn khấn. Người đứng ở cửa kia tóc còn đen nhánh, búi cao bằng cái kẹp nhựa đỏ, quần xắn tới gối, hai bắp chân đen bóng nước biển. Mạ cầm cái mủng, trong mủng lấp lánh mấy con cá trích còn giãy.

Tôi ngồi dậy. Người nhẹ tênh. Hai bàn tay tôi gầy, nứt nẻ, móng tay có viền đen. Không có vết bỏng dầu ở mu bàn tay phải, cái vết tôi mang từ năm hai mươi sáu tuổi khi chảo dầu ở căng tin công ty đổ.

– Mạ ơi, – tôi nói, giọng tôi the thé như giọng con nít, – chừ là năm mô?

Mạ nhíu mày nhìn tôi.

– Năm mô à? Ngủ mê rồi con ni. Năm tám chín, sắp hết năm tám chín rồi. Dậy ra bãi phụ bọ kéo thuyền, không có mi thì để thằng Khoái kéo một mình à?

Năm tám chín. Tôi đứng lên và suýt ngã vì cái phản kêu cót két dưới chân. Tôi mười lăm tuổi. Tôi đứng giữa căn nhà tranh ba gian của bọ mạ ở xóm bãi ngang. Bốn năm nữa người ta sẽ dỡ nó đi để dựng nhà gạch. Ba mươi mấy năm nữa, chỗ này chỉ còn cái nền xi măng mọc đầy cỏ may. Và chiều hôm qua, tôi đã ngồi trên cái nền ấy chờ người đến mua đất.

Chiều hôm qua, tôi nhớ, tôi ngồi đó ăn một gói xôi lạc mua ở chợ, nhìn biển, và tôi ngủ gục.

Ngoài sân, mệ nội ngồi trên bậc cửa nhai trầu, cái ống nhổ bằng ống bơ sữa để cạnh chân. Mệ nhìn tôi chạy qua, nói to như mọi người lãng tai vẫn nói:

– Con Nhút hôm ni dậy muộn hè!

Tôi muốn dừng lại ôm mệ. Mệ mất năm chín mốt, mùa đông, sau một trận ho. Nhưng tôi không dừng được, vì tiếng ồn ngoài bãi đã tràn vào tận ngõ: tiếng người gọi nhau, tiếng sóng đập, tiếng gỗ cọ vào cát.

Bãi ngang buổi sáng tháng Chạp xám như tro. Gió bấc thổi rát mặt. Cả dãy thuyền nan đang được kéo lên, người ta lót những cây gỗ tròn dưới đáy thuyền, đẩy một đoạn lại rút cây gỗ phía sau chạy ra trước lót tiếp. Bọ tôi đứng ở đuôi thuyền, cởi trần, cái lưng đỏ au vì lạnh, hai tay ghì mạn thuyền. Anh Đường tôi đứng mũi, hét "Dô ta!" theo nhịp, cái giọng khàn như vịt đực. Thằng Khoái mười một tuổi chạy lăng xăng ôm cây lăn.

Tôi đứng sững ở mép cát.

Bọ tôi bốn mươi bảy tuổi. Mặt bọ chưa có nếp nhăn sâu như cái mặt trong tấm ảnh thờ, cái ảnh mà người ta phải cắt ra từ tấm ảnh chụp chung đám cưới chị Thoa vì nhà không còn tấm nào bọ chụp một mình. Bọ còn sống. Bọ đang hét anh Đường:

– Mi đẩy lệch rồi, thằng ni! Lệch sang trái, mũi thuyền cắm xuống cát chừ!

Tôi chạy tới, cúi xuống ôm cây lăn. Gỗ lạnh buốt, rít, nặng gấp mấy lần tôi tưởng. Đôi tay mười lăm tuổi run lên, nhưng tôi bê được, tôi chạy ra trước mũi thuyền đặt xuống đúng chỗ, như đã làm hàng trăm lần trước đây, trước khi tôi đi.

Khi thuyền lên tới chỗ cát khô, bọ chống tay vào mạn thở. Rồi bọ cúi xuống khoang, lấy ra một cái túi ni lông buộc chặt, mở từng lớp, như người ta mở gói bánh chưng.

Trong túi là cái đài.

Cái đài bán dẫn vỏ da nâu, to bằng cuốn sách dày, có quai đeo bằng da đã sờn, mặt trước là cái lưới sắt nhỏ mắt, bên cạnh có cái núm xoay dò đài và cái cần ăng ten kéo ra được. Bọ mua lại của một anh bộ đội về phép năm tám ba, đổi bằng hai chục cân cá khô và một con gà trống. Cả xóm có ba cái đài, cái của bọ tôi bắt sóng tốt nhất.

Bọ kéo ăng ten, xoay núm. Tiếng rè rè, rồi một giọng đàn ông đều đều vang lên giữa tiếng sóng: "...vùng biển từ Thanh Hóa đến Quảng Bình, gió đông bắc cấp năm, giật cấp sáu, biển động...".

Bọ gật gù:

– Rứa là chiều ni không ra được. Đường, mai mi đi đan lưới với mạ.

Tôi đứng đó nhìn cái đài. Trong ký ức của tôi, cái đài này không còn. Nó biến mất mùa hè năm chín mươi, và khi người ta hỏi, tôi luôn trả lời: nhà nghèo, bán đi trả nợ. Tôi đã trả lời câu ấy nhiều đến mức tôi tin nó. Nhưng lúc này, nhìn cái lưới sắt nhỏ mắt và vết xước hình chữ thập ở góc vỏ da, tôi thấy trong bụng nhói lên một cái gì đó tôi không gọi được tên. Như là tôi quên mất một bậc cầu thang và chân hẫng xuống.

– Con Nhút làm chi đứng ngẩn ra rứa? – Bọ hỏi. – Đói à? Về bảo mạ nướng cho con cá.

Tôi lắc đầu, rồi gật đầu, rồi chạy về.

Bữa sáng là khoai lang luộc với cá trích nướng. Cả nhà tám người ngồi quanh cái mâm gỗ đặt dưới đất, bàn chân ai cũng dính cát. Chị Thoa bóc khoai cho con Ớt, thổi phù phù. Chị mười tám tuổi, tóc tết một bím dài tới thắt lưng, áo trắng học sinh đã ngả màu cháo. Chị học lớp mười hai ở trường cấp ba cách nhà sáu cây số, ngày nào cũng đạp cái xe đạp không có phanh, phanh bằng dép.

– Chị Thoa ơi, – tôi nói, – sang năm chị thi trường y sĩ phải không?

Chị liếc mạ một cái, rồi cúi xuống.

– Thi chi mà thi. Nhà lấy tiền mô.

– Có tiền. – Mạ nói, giọng nhỏ mà chắc. – Mạ để dành rồi.

Cả mâm im. Anh Đường đặt củ khoai xuống.

– Mạ để ở mô? – Anh hỏi.

– Mạ gửi hợp tác xã tín dụng trên xã. Lãi cao hơn ngân hàng gấp mấy lần. Ông Ba Thục bảo gửi đủ một năm, cả gốc cả lãi đủ cho con Thoa ăn học hai năm.

Tôi nuốt miếng khoai mà nó dừng lại ở cổ.

Hợp tác xã tín dụng. Tôi đã quên mất cái tên ấy, như người ta quên tên một trận ốm. Bây giờ nó trở lại cùng với hình ảnh mạ ngồi ở bậc cửa, tháng Ba năm chín mươi, hai tay ôm cuốn sổ bìa xanh, không khóc, chỉ ngồi. Cả mùa xuân ấy mạ không nói câu nào dài quá năm chữ. Chị Thoa không đi thi. Chị lấy chồng năm sau, một anh làm muối ở xã bên, và hai mươi năm sau tay chị nứt như mặt ruộng muối.

– Mạ ơi, – tôi nói, cố giữ cho giọng không run, – mạ gửi bao nhiêu rồi?

Mạ nhìn tôi như nhìn người lạ.

– Con nít hỏi chi chuyện tiền nong.

– Mạ nói đi mạ.

– Sáu trăm nghìn. – Bọ trả lời thay, cái giọng tự hào hiếm hoi. – Mạ mi đi chợ bán cá mười năm, nhịn ăn nhịn mặc mới có từng đó. Mai mạ bán con lợn, gửi thêm nữa là tròn.

Con lợn. Tôi nhớ con lợn. Một con lợn đen lang trắng, nuôi từ Tết năm ngoái, ăn cám trộn rau má và đầu cá. Kiếp trước, tiền bán con lợn ấy cũng đi theo cuốn sổ bìa xanh.

– Mạ đừng gửi nữa. – Tôi nói.

Mạ đặt đôi đũa xuống.

– Răng?

Tôi há miệng. Tôi muốn nói: vì sau Tết người ta đóng cửa, ông Ba Thục trốn biệt, cả xã kéo nhau lên đập cửa, mạ ngồi ở bậc cửa ba tháng không nói. Tôi muốn nói: vì con đã sống hết cái đời mà mạ chưa sống, con biết. Nhưng tôi mười lăm tuổi và miệng tôi đầy khoai.

– Con nằm mơ. – Tôi nói. – Con mơ thấy người ta khóa cửa hợp tác xã.

Anh Đường phá ra cười. Thằng Khoái cười theo, không hiểu chi cũng cười. Mệ nội không nghe được, thấy cả nhà cười cũng cười, hở hàm răng đen nhức.

Mạ không cười. Mạ cầm lại đôi đũa, gắp một miếng cá bỏ vào bát con Ớt.

– Mơ thì mơ. – Mạ nói. – Ăn đi.

Buổi chiều tôi ra bãi ngồi một mình. Tôi cần nghĩ.

Tôi không biết vì sao tôi ở đây. Tôi không phải người đọc truyện, tôi không biết những chuyện người ta sống lại. Tôi chỉ biết tôi đã làm đầu bếp căng tin hai mươi lăm năm, đã nấu bốn trăm suất cơm một ngày, đã biết cách tính sao cho một con cá nục đủ cho bốn đứa công nhân mà đứa nào cũng tưởng mình được miếng to. Tôi biết tính, biết nhẫn, biết chờ. Nhưng tôi không biết làm sao một đứa con gái mười lăm tuổi bảo được mạ nó đừng tin người lớn.

Tôi lấy que vạch lên cát.

Hợp tác xã. Tháng Ba năm chín mươi. Phải lấy tiền ra trước Tết.

Anh Đường. Rằm tháng Hai. Thuốc nổ. Bàn tay trái.

Chị Thoa. Thi mùa hè.

Bọ. Tháng Tám âm lịch. Cơn bão.

Tôi dừng que ở chữ cuối cùng. Sóng đánh vào chân, rút đi, mang theo một ít cát ở mép chữ.

Kiếp trước, tôi không có mặt ở nhà vào đêm bão ấy. Tôi đã ở Sài Gòn được ba tháng, ngồi trong một xưởng may ở Gò Vấp, đạp máy mười bốn tiếng một ngày. Tin bọ không về, tôi nhận qua một lá thư chị Thoa gửi, đến tay tôi khi đám tang đã xong được ba tuần. Chị viết: hôm nớ bọ ra khơi, cả xóm có mấy thuyền ra, không ai biết tin bão vì nhà mình không còn đài, nhà mệ Tịu đài hỏng, nhà ông Khanh đi ăn cưới ở Vinh.

Không còn đài.

Tôi đọc câu đó vào năm mười sáu tuổi. Tôi đã gập lá thư lại rất nhanh. Và ba mươi sáu năm, tôi không bao giờ mở lại nó.

Sau lưng tôi có tiếng dép lẹp xẹp. Thằng Khoái chạy tới, tay cầm một con cua đá nhỏ xíu.

– Chị Nhút, chị viết chi rứa?

Tôi lấy chân xóa vội.

– Không có chi.

– Chị viết chữ "bão". Em thấy rồi. – Nó ngồi xổm xuống cạnh tôi, thả con cua cho nó bò. – Chị ơi, mạ bảo mai mạ đi từ sớm, gà gáy là đi, dắt lợn lên chợ xã bán rồi lên hợp tác xã luôn. Mạ dặn em ở nhà trông con Ớt. Mạ còn bảo...

Nó ngừng.

– Bảo chi?

– Mạ bảo chị nói gở. Mạ không cho chị đi theo.

Tôi nhìn ra biển. Mặt trời lặn phía sau lưng, phía đồng, nên biển tối dần từ ngoài khơi vào, màu chì loang thành màu mực. Những thuyền nan nằm trên cát như những cái vỏ hến khổng lồ úp sấp.

Đêm đó tôi nằm không ngủ. Gần sáng, tôi nghe tiếng mạ dậy, tiếng kẽo kẹt của cái tủ gỗ, tiếng lật giấy. Rồi tiếng con lợn eng éc ngoài chuồng khi bọ buộc dây vào chân nó.

Tôi hé mắt nhìn. Trong ánh đèn dầu, mạ đứng quay lưng lại, đang buộc một cái gói ni lông nhỏ vào cạp quần bằng sợi dây chun, giấu dưới lớp áo. Cạnh gói tiền có một cuốn sổ nhỏ bìa xanh.

Mạ thổi tắt đèn và đi ra cửa. Tiếng chân mạ xa dần trên con ngõ cát, lẫn với tiếng lợn kêu và tiếng sóng.

Tôi lật chăn, xỏ chân vào đôi dép nhựa, và chạy theo.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cái đài vỏ da nâu của bọ

  1. 1Cái đài vỏ da nâu11 phút đọc
  2. 2Cuốn sổ gửi tiền bìa xanh10 phút đọc
  3. 3Cái thùng dầu trong chái lưới10 phút đọc
  4. 4Rạng sáng ở rạn đá9 phút đọc
  5. 5Moi khô hàn miệng bằng ngọn nến10 phút đọc
  6. 6Người đàn bà áo bà ba lụa10 phút đọc
  7. 7Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh9 phút đọc
  8. 8Bản tin lúc năm giờ chiều11 phút đọc
  9. 9Hai chỉ vàng trong áo bông của mệ9 phút đọc
  10. 10Bản tin cuối cùng của năm9 phút đọc

Về truyện này

Cái đài vỏ da nâu của bọ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →