AI Truyện
Cái đài vỏ da nâu của bọ

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh

Cái đài vỏ da nâu của bọ · Chương 7/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh

– Mi đi mô? – Bọ hỏi khi thấy tôi xỏ dép.

– Con đi tìm chị Thoa.

– Hắn lớn rồi. – Bọ nói. Giọng bọ khô như cát trưa. – Hắn muốn đi thì để hắn đi.

Mạ đứng ở cửa bếp, tay chùi vào vạt áo, không nói câu nào. Nhưng mạ quay vào, cúi xuống chân phản, moi ra cái ống tre chị Thoa để lại, rút một xấp tiền nhét vào tay tôi. Rồi mạ nhìn bọ, cái nhìn mà ba mươi năm làm vợ chồng mới có được, cái nhìn không cần lời. Bọ quay mặt ra biển.

Thằng Khoái đã đứng sẵn ở cổng, dép đã xỏ, áo đã cài cúc.

– Em đi với chị.

– Mi ở nhà.

– Em biết chỗ o Kiều đưa người ta ra ga. – Nó nói. – Năm ngoái em theo xe ra Vinh bán cua với anh Tạo, em thấy o dẫn mấy chị đi qua chợ trước khi ra ga. O dẫn vô một cái ngõ có hiệu sửa đài.

Tôi đứng nhìn thằng em mười một tuổi. Nó gầy nhom, tóc cháy nắng vàng hoe, hai đầu gối đầy sẹo. Kiếp trước, tôi chưa bao giờ hỏi nó biết những gì.

– Đi. – Tôi nói.

Chuyến xe khách thứ hai trong ngày chạy lúc tám giờ. Đến chợ Vinh đã gần mười giờ trưa, nắng chang chang. Chợ đông như nêm. Người bán, người mua, xe đạp thồ chất hàng cao ngất, mấy ông xích lô ngồi ngủ gật dưới gốc cây. Mùi cá khô, mùi vải mới, mùi dầu luyn, mùi bánh rán.

Tôi không cần thằng Khoái chỉ đường. Chân tôi tự đi. Tôi rẽ trái ở góc hàng vải, đi qua dãy hàng bán nồi niêu nhôm, rẽ phải vào một con ngõ hẹp có cái cột điện nghiêng, và đứng trước một hiệu nhỏ chỉ rộng bằng hai cánh cửa. Trên cái bàn gỗ trước cửa la liệt những cái đài tháo tung, những cái đồng hồ mở nắp, những cuộn dây đồng. Một ông già ngồi sau bàn, một mắt đeo cái kính lúp nhỏ màu đen như con mắt thứ ba.

Ba mươi sáu năm trước, hay ba mươi sáu năm sau, tùy cách tính, ông ngồi đúng chỗ ấy, trả tôi tám nghìn.

– Ông ơi, – tôi nói, – sáng ni có một chị mười tám tuổi, tóc tết một bím dài, bán cho ông một cái đài vỏ da nâu phải không ông?

Ông ngẩng lên, tháo kính lúp. Mắt ông đục, nhưng nhìn người rất nhanh.

– Có. – Ông nói. – Đài tốt. Bắt sóng biển khỏe.

– Ông bán lại cho cháu. Cháu trả tiền.

– Muộn rồi, cháu. – Ông lắc đầu. – Nửa tiếng sau có ông chủ thuyền máy bên kia cửa lạch đi qua, thấy là mua ngay. Ông ấy mới sắm thuyền máy, cần cái đài nghe tin thời tiết. Trả tiền mặt, không mặc cả.

Tôi đứng sững. Thằng Khoái kéo tay tôi.

– Ông ấy tên chi, ông? – Nó hỏi.

– Thằng Sáu Mực. Ai bên kia cửa lạch cũng biết nó. – Ông già đeo lại kính lúp, cúi xuống cái đồng hồ đang mở. – Mà cái chị tóc dài kia, sáng ni o Kiều dẫn đến. Năm mô o cũng dẫn mấy đứa đến. Đứa thì bán dây chuyền, đứa thì bán đồng hồ của bọ. Ông mua rẻ, ông biết. Nhưng ông không mua thì đứa khác mua rẻ hơn.

Tôi cảm ơn ông, và đi ra khỏi con ngõ. Ông già gọi với theo:

– Con bé! Mi đến đây bao giờ chưa? Mi đi như người quen đường.

Tôi không quay lại.

Ga Vinh buổi trưa vắng hơn buổi sáng. Chuyến tàu vào Nam chạy lúc hai giờ chiều. Dưới mái hiên phòng chờ, có một nhóm sáu đứa con gái ngồi trên những cái túi vải, mặc quần áo đẹp nhất, tóc chải mượt bằng nước bồ kết. O Kiều đứng cạnh, đang nói chuyện với một ông nhân viên ga đội mũ kê-pi.

Chị Thoa ngồi ở rìa, ôm cái túi vải nhỏ, nhìn ra đường ray.

Bà Cửu bán chè xanh nhìn thấy tôi trước. Bà vẫy tay.

– Con Nhút! Chị mi kia kìa. Tau thấy từ sáng. Tau hỏi hắn, hắn không nói.

Tôi đi tới. Chị Thoa nhìn thấy tôi, đứng bật dậy, rồi lại ngồi xuống. Mấy đứa con gái khác quay nhìn. O Kiều quay nhìn.

Tôi ngồi xuống cạnh chị trên bậc thềm. Thằng Khoái đứng ở xa, ngoan ngoãn lạ thường.

– Em không đến bắt chị về. – Tôi nói.

Chị Thoa không nhìn tôi.

– Rứa mi đến làm chi?

– Em đến để kể cho chị nghe một giấc mơ.

Chị quay lại. Tôi nhìn thẳng vào chị, và tôi kể.

Tôi không kể rằng tôi đã sống năm mươi hai năm. Không ai tin chuyện đó, và tôi cũng không chắc chị nên tin. Tôi kể như một giấc mơ, một giấc mơ dài. Trong giấc mơ, có một đứa con gái mười lăm tuổi lấy cái đài của bọ đi bán ở hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh, đi theo o Kiều vào Sài Gòn. Tôi kể cái gác xép nóng bốn mươi độ. Tôi kể ca làm mười bốn tiếng. Tôi kể tháng thứ hai không có lương. Tôi kể kim gãy, chỉ rối. Tôi kể lá thư của chị nó gửi vào, ba tháng sau, nói rằng bọ ra khơi không có đài, không biết tin bão, và không về.

Tôi kể bằng một giọng đều, không khóc. Tôi đã khóc hết trên bãi cát đêm hôm trước.

Chị Thoa nghe hết, không ngắt lời câu nào. Khi tôi dừng, chị im lặng rất lâu.

– Trong giấc mơ, – chị hỏi, giọng run run, – đứa con gái nớ là mi à?

– Dạ.

– Rồi chị ở mô?

– Chị ở nhà. Chị không đi thi. Chị lấy chồng làm muối. Tay chị nứt như ruộng muối.

Chị Thoa nhìn xuống hai bàn tay mình. Mấy ngón tay thon, móng cắt ngắn, vết mực tím ở ngón giữa.

Chị là người không bao giờ hỏi câu thứ hai. Lần này chị cũng không hỏi. Chị đứng dậy, cầm cái túi vải, đi về phía o Kiều.

Tôi không nghe được chị nói gì với o. Tôi chỉ thấy o Kiều nhìn chị, rồi nhìn tôi, rồi nhìn mãi về phía tôi. O mở cái ví da nhỏ, đếm ra mấy tờ tiền, đưa cho chị Thoa. Chị Thoa cúi đầu cảm ơn.

O Kiều đi tới chỗ tôi. O đứng nhìn tôi từ trên xuống, cái nón trắng che nửa mặt.

– Mười lăm nghìn, tau trả lại hắn đủ. – O nói. – Tau đã bảo mi rồi, tau không lừa ai.

– Dạ. Cháu cảm ơn o.

O Kiều chưa đi ngay. O nhìn ra đường ray, nơi mấy đứa con gái khác đang ngồi chờ tàu.

– Lúc nãy mi kể chuyện, tau đứng gần, tau nghe được một đoạn. – O nói, rất nhỏ. – Cái gác xép bốn mươi độ. Mi tả giống quá.

O quay đi trước khi tôi kịp trả lời.

Chúng tôi không về ngay. Chị Thoa nói: "Đi chuộc cái đài." Ba chị em đón xe khách ra cửa lạch, rồi đi đò sang bên kia. Cái đò ngang chở cả người lẫn xe đạp, lẫn cả một con bò, ông lái đò đứng ở đuôi chống sào, miệng ngậm điếu thuốc lá cuốn.

Làng bên kia cửa lạch giàu hơn làng tôi. Thuyền ở đây đã nhiều chiếc có máy, cái thân gỗ sơn xanh đỏ, nằm dọc bến như một hàng răng. Nhà ông Sáu Mực là căn nhà mái ngói đỏ to nhất bến, sân phơi đầy mực một nắng trên những tấm lưới căng ngang, mùi thơm nồng.

Ông Sáu Mực đang ngồi trên cái ghế mây ngoài hiên, cởi trần, bụng to tròn, cầm cái quạt nan phe phẩy. Cạnh chân ông là một cái lồng gà chọi phủ vải. Và trên cái bàn uống nước trước mặt ông, đặt ngay ngắn trên một tấm khăn trải, là cái đài vỏ da nâu của bọ tôi. Tôi nhận ra vết xước hình chữ thập ở góc.

Chị Thoa nói hết đầu đuôi. Chị nói rất lễ phép, rất rõ, như đọc bài trước lớp. Chị lấy ra mười lăm nghìn o Kiều trả, thêm mười nghìn của tôi.

Ông Sáu Mực nghe xong, cười khà khà.

– Cái đài ni tau mua hai mươi nghìn. – Ông nói. – Tau mua là vì tau cần. Thuyền tau mới lắp máy, ra xa hơn thuyền nan bọ tụi bây cả chục hải lý. Không có đài thì tau chết đuối trước bọ tụi bây. Bây trả ba chục nghìn tau cũng không bán.

– Ông ơi, – thằng Khoái bỗng nói, – rứa ông đi mua cái khác ở Vinh được mà.

– Ở Vinh hết rồi, nhóc. Cửa hàng bách hóa phải đặt trước, nửa tháng một tháng mới có. Mi tưởng đài là khoai lang à?

Thằng Khoái im. Mắt nó nhìn vào cái lồng gà chọi dưới chân ông Sáu Mực. Ông Sáu Mực thấy nó nhìn.

– Mi cũng mê gà à?

– Dạ.

– Gà tau đây. – Ông kéo tấm vải phủ lồng, khoe một con gà lông điều, cựa dài. – Con ni ba trận thắng ba. Cả bến ni không con mô đứng nổi với nó.

Thằng Khoái nhìn con gà rất lâu. Rồi nó cúi đầu, không nói gì nữa.

Trên đò về, trời chiều đã ngả màu cam. Chị Thoa ngồi ở mũi, ôm cái túi vải, nhìn mặt nước. Tôi ngồi giữa. Thằng Khoái ngồi ở cuối, sát chỗ ông lái đò, hai tay ôm đầu gối, im lặng suốt.

– Không sao. – Chị Thoa nói, như nói với mặt nước. – Mình bán moi, bán cá cơm, để dành mua cái mới. Chị đi đặt ở cửa hàng bách hóa.

– Dạ. – Tôi nói.

Nhưng tôi đếm ngày trong đầu. Bây giờ là cuối tháng Năm âm lịch. Kiếp trước chị Thoa viết "hôm nớ", và tôi chưa bao giờ hỏi hôm nớ là hôm nào. Tôi chỉ biết tháng Tám. Ba tháng. Có thể ít hơn.

Tối đó về đến nhà, chị Thoa quỳ trước bọ ở ngoài hiên. Bọ không đỡ chị dậy, nhưng cũng không mắng. Bọ chỉ nói một câu:

– Cái kệ để đó. Không đứa mô được đặt cái chi lên.

Đêm đó tôi nghe tiếng thằng Khoái thì thầm ngoài chuồng gà. Tôi rón rén ra nhìn. Nó ngồi xổm cạnh cái lồng tre, thò tay vào vuốt lưng con Ô Tía, vừa vuốt vừa nói nhỏ những câu tôi không nghe rõ.

Chỉ có một câu, nó nói to hơn một chút, tôi nghe được:

– Bên nớ người ta có lồng to, có thóc ăn no. Mi sang bên nớ thì đừng mổ người ta nghe chưa.

— Hết chương 7 —

Mục lục Cái đài vỏ da nâu của bọ

  1. 1Cái đài vỏ da nâu11 phút đọc
  2. 2Cuốn sổ gửi tiền bìa xanh10 phút đọc
  3. 3Cái thùng dầu trong chái lưới10 phút đọc
  4. 4Rạng sáng ở rạn đá9 phút đọc
  5. 5Moi khô hàn miệng bằng ngọn nến10 phút đọc
  6. 6Người đàn bà áo bà ba lụa10 phút đọc
  7. 7Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh9 phút đọc
  8. 8Bản tin lúc năm giờ chiều11 phút đọc
  9. 9Hai chỉ vàng trong áo bông của mệ9 phút đọc
  10. 10Bản tin cuối cùng của năm9 phút đọc

Về truyện này

Cái đài vỏ da nâu của bọ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →