AI Truyện
Cái đài vỏ da nâu của bọ

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Người đàn bà áo bà ba lụa

Cái đài vỏ da nâu của bọ · Chương 6/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Người đàn bà áo bà ba lụa

O Kiều về làng như một đám rước.

O mặc bộ bà ba lụa màu hoa cà, thứ lụa mỏng và mượt đến mức gió bãi ngang thổi vào là bay phấp phới như cánh bướm. O đội cái nón trắng vành rộng, quai đeo bằng lụa đỏ. Cổ o có sợi dây chuyền vàng mảnh, cổ tay có cái đồng hồ mặt vuông lấp lánh. Sau lưng o là anh xe thồ chở hai cái va li to và một cái máy cát sét đang bật nhạc vàng.

O ba mươi hai tuổi. Năm tám tư, o đi vào Sài Gòn với hai bộ quần áo và cái chiếu cói. Bây giờ mỗi năm o về một lần, sau mùa moi, khi xóm có tiền và con gái thì rảnh tay.

Nhà mạ o Kiều ở đầu xóm trên, cạnh cây bàng già. Chỉ một buổi sáng mà sân nhà ấy đã chật kín. Con gái mười lăm, mười sáu, mười bảy tuổi, đứa nào cũng mặc bộ áo đẹp nhất mình có, ngồi xổm thành vòng tròn quanh cái chõng tre. O Kiều ngồi trên chõng, chia cho mỗi đứa một bánh xà phòng thơm gói giấy bóng, một nắm kẹo sữa. Mùi xà phòng ngào ngạt cả một khúc ngõ.

Tôi đứng ngoài hàng rào dâm bụt, nhìn qua kẽ lá.

– Xưởng may của chủ chị ở Gò Vấp, – o Kiều nói, giọng đã pha giọng Nam, mềm và dài, – làm theo ca, có cơm trưa, có chỗ ngủ trên gác. Tháng đầu học việc thì chưa có lương, ăn ở chủ lo. Tháng thứ hai trở đi thì làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu. Đứa siêng năng một tháng gửi về nhà được bằng bọ mạ làm ba tháng.

Mấy đứa con gái xuýt xoa.

– Rứa đi thì mất chi không o? – Một đứa hỏi.

– Mất tiền xe với tiền giới thiệu. – O Kiều nói, nhẹ nhàng như nói chuyện mua rau. – Mười lăm nghìn một đứa. Chị lo vé tàu, lo người đón ở ga Sài Gòn, lo giấy tờ tạm trú. Đứa nào không có ngay thì chị cho nợ, trừ dần vào lương.

Mười lăm nghìn. Tôi nhớ con số ấy. Tôi nhớ cái cảm giác cầm mười lăm nghìn trong tay, xếp gọn, ướt mồ hôi, đưa cho o Kiều trong bóng tối dưới gốc bàng lúc ba giờ sáng.

Tôi nhớ đến đó thì dừng. Cái phần tiếp theo, cái phần mười lăm nghìn ấy từ đâu ra, đầu tôi trượt qua như bánh xe trượt qua vũng dầu.

Tôi thấy chị Thoa.

Chị ngồi ở rìa vòng tròn, không phải hàng đầu, nhưng không phải ở ngoài. Chị không cầm bánh xà phòng. Chị ngồi bó gối, mắt nhìn chăm chăm vào o Kiều, cái nhìn của người đang tính.

Tối hôm đó tôi chờ chị ở ngoài hiên.

– Chị không đi đâu. – Chị nói, trước khi tôi kịp hỏi. – Chị chỉ nghe.

– Chị nghe để làm chi?

Chị Thoa ngồi xuống cạnh tôi. Từ trong nhà vọng ra tiếng đài của bọ, bản tin thời tiết biển lúc chín giờ tối, giọng đọc đều đều: "...vùng biển từ Thanh Hóa đến Quảng Bình, gió tây nam cấp ba, cấp bốn...".

– Nhút, – chị nói, – mi giỏi hơn chị.

– Chị nói chi rứa.

– Thật. Chị học giỏi, nhưng chị học bằng cách ngồi chép đi chép lại. Mi thì khác. Mi nhìn cái cân của ông lái lợn là biết ông gian. Mi nhìn cái hợp tác xã là biết nó sập. Mi nghĩ ra hàn túi moi bằng ngọn nến. Đứa như mi mà ở nhà vá lưới cả đời thì phí.

– Em không cần học. Chị mới cần.

– Tiền moi chỉ đủ cho một đứa. – Chị Thoa nói, giọng bình thản như nói chuyện chia cá. – Chị đi làm hai năm, gửi tiền về. Mi học hết cấp ba. Con Ớt chữa tai. Thằng Khoái đi học không phải nhặt cá. Rứa là đủ.

– Không.

– Răng không?

Tôi muốn hét lên: vì kiếp trước con đi, và con biết cái xưởng ấy. Cái gác xép nóng bốn mươi độ, hai mươi đứa con gái nằm như cá mòi xếp hộp. Ca làm mười bốn tiếng, ăn cơm với rau muống luộc chấm nước mắm pha loãng. Tháng thứ hai không có lương vì "còn nợ tiền xe, tiền ăn tháng đầu". Tháng thứ ba có lương thì bị trừ tiền kim gãy, tiền chỉ rối. Con mất hai năm mới gửi được đồng đầu tiên về nhà, và lúc ấy bọ đã nằm dưới mộ.

Nhưng tôi không hét. Tôi ngồi yên, vì tôi vừa nghe thấy một tiếng gì đó trong đầu mình. Một tiếng rè rè.

Tiếng của cái đài bị tắt vội, giữa chừng một câu.

– Nhút? Mi răng rứa?

Tôi đứng dậy, đi ra ngõ. Chị Thoa gọi với theo. Tôi không quay lại.

Tôi đi ra bãi, đi dọc mép nước, đi cho đến khi không còn thấy đèn dầu của xóm nữa. Rồi tôi ngồi xuống cát.

Và tôi nhớ.

Tôi nhớ đêm ấy, kiếp trước, tháng Năm năm chín mươi, ba ngày trước khi o Kiều dẫn đoàn đi. Tôi nằm trên phản cạnh con Ớt, mở mắt trong bóng tối. Tôi đã có mười nghìn đồng, tiền tôi bán ốc, bán củi, dành dụm cả năm. Tôi còn thiếu năm nghìn. Tôi đã xin mạ. Mạ không cho, mạ bảo con gái mười lăm tuổi đi đâu mà đi, cả nhà chưa ai đi xa, mạ vừa mất hết tiền ở hợp tác xã, mạ không có tiền mà cho.

Đêm đó tôi dậy. Tôi đi qua chỗ bọ nằm ngủ ở hiên. Cái đài đặt trên cái kệ gỗ nhỏ bọ đóng riêng cho nó, cao ngang đầu người, cạnh bàn thờ ông bà. Tôi nhón chân, với tay. Cái đài nặng hơn tôi tưởng. Tôi gói nó vào cái áo len cũ của tôi. Tôi đi bộ ra đường cái lúc gà gáy, đón xe ra chợ Vinh, đi vòng vèo hỏi đường đến một hiệu sửa đài sửa đồng hồ trong một cái ngõ nhỏ, nơi một ông đeo kính lúp một mắt trả tôi tám nghìn.

Tám nghìn. Tôi cầm tám nghìn và mười nghìn của tôi, trả o Kiều mười lăm nghìn, còn ba nghìn tôi mua một cái áo mới để mặc lên tàu.

Tôi viết một lá thư để lại dưới gối: "Con mượn cái đài của bọ. Con vô trong nớ làm, có lương con gửi tiền về chuộc lại. Con xin lỗi bọ mạ."

Rồi tôi đi. Và ba tháng sau, chị Thoa viết cho tôi: hôm nớ bọ ra khơi, cả xóm có mấy thuyền ra, không ai biết tin bão vì nhà mình không còn đài.

Ba mươi sáu năm, mỗi khi có ai hỏi về cái đài, tôi trả lời: nhà nghèo, bán đi trả nợ. Ba mươi sáu năm, mỗi khi về làng làm giỗ bọ, tôi đứng trước bàn thờ, nhìn cái kệ gỗ nhỏ trống trơn bên cạnh, mà tôi không bao giờ tự hỏi vì sao nó trống. Tôi đã cắt cái đêm ấy ra khỏi đời mình, khâu hai mép lại, khéo đến mức chính tôi cũng không thấy đường chỉ.

Tôi ngồi trên cát, hai tay ôm đầu gối, và tôi khóc như chưa bao giờ khóc. Không phải khóc to. Khóc như người ta nôn, từng cơn, không dừng được.

Không phải hợp tác xã. Không phải cơn bão. Không phải cái thuyền nan cũ. Là tôi.

Tôi không biết mình ngồi đó bao lâu. Khi tôi về đến nhà thì trăng đã lên cao. Bọ còn thức, ngồi ở hiên hút thuốc lào, cái đài đặt trên đùi, tắt rồi, nhưng bọ vẫn để tay lên nó.

– Con Nhút. – Bọ nói. – Đi mô về khuya rứa?

Tôi không trả lời. Tôi quỳ xuống cạnh bọ, trên cái chiếu cói, và tôi đặt tay lên cái đài, chồng lên tay bọ. Vỏ da ấm vì hơi người.

– Bọ ơi, – tôi nói, giọng khàn đặc, – bọ đừng bao giờ ra khơi mà chưa nghe đài.

Bọ nhìn tôi. Trong ánh trăng, tôi thấy bọ nhíu mày, rồi giãn ra.

– Bọ ra khơi ba chục năm, – bọ nói, – có hôm mô bọ không nghe đài đâu.

– Bọ hứa đi.

Bọ im một lúc. Rồi bọ bật cười, tiếng cười khàn của người hút thuốc lào cả đời.

– Ừ. Bọ hứa. Con ni dạo ni lạ lắm.

Bọ đứng dậy, đặt cái đài lên kệ gỗ cạnh bàn thờ, rồi nằm xuống phản. Tôi đứng nhìn cái đài trên kệ một lúc lâu, như người ta đứng nhìn một ngọn đèn sợ nó tắt.

Ba ngày sau đó tôi không rời chị Thoa nửa bước.

Tôi theo chị lên trường, tôi theo chị ra đồng hái rau, tôi ngủ sát chị đến mức chị phải đẩy tôi ra. Chị không nhắc đến o Kiều nữa. Chị ôn bài thi tốt nghiệp, chị nhỏ thuốc tai cho con Ớt mỗi tối, chị ghi chép tiền bán moi vào cuốn vở. Mọi thứ đều bình thường đến mức tôi bắt đầu tin chị đã bỏ ý định.

Chiều ngày thứ ba, tôi gặp o Kiều ở giếng làng. O đang gội đầu bằng nước bồ kết, mái tóc dài xõa xuống cái chậu nhôm. O ngẩng lên, nước nhỏ ròng ròng, nhìn tôi.

– Con Nhút nhà bọ Kỷ phải không? – O hỏi. – Mấy hôm ni mi đứng ngoài rào nhà tau nhìn tau như nhìn kẻ cướp.

Tôi không chối.

O Kiều vắt tóc, quấn cái khăn mặt lên đầu.

– Năm tau mười lăm, – o nói, – tau cũng ngồi xổm ở cái sân nớ, nghe một o khác kể chuyện Sài Gòn. Tau đi. Tau khổ. Bây chừ tau có cái nhà ngói cho mạ tau. Tau không lừa ai, tau chỉ không kể hết. Mi muốn ghét thì ghét, nhưng đừng tưởng tau ác hơn cái nghèo.

O xách chậu nước đi. Tôi đứng lại bên miệng giếng, và tôi không ghét được o nữa. Điều đó làm tôi sợ hơn.

Đêm thứ tư, tôi ngủ quên.

Tôi tỉnh dậy lúc trời đã sáng bạch. Tiếng mạ ngoài bếp đang hỏi: "Con Thoa mô rồi? Sáng ni hắn không nấu cơm à?"

Tôi bật dậy. Chỗ chị Thoa nằm cạnh con Ớt trống không, cái gối đặt ngay ngắn. Dưới gối có một mảnh giấy xé từ cuốn vở chị vẫn ghi tiền moi.

Tôi không cần đọc. Tôi chạy ra hiên.

Cái kệ gỗ nhỏ cạnh bàn thờ trống trơn. Chỉ còn một vệt bụi hình chữ nhật, đúng kích thước cái đài, in trên mặt gỗ.

Ngoài sân, bọ đứng đó, nhìn cái kệ, tay còn cầm cái điếu cày. Bọ không nói gì. Bọ chỉ nhìn.

Tôi mở mảnh giấy ra. Nét chữ chị Thoa nắn nót, như chép bài:

"Bọ mạ ơi, con đi theo o Kiều. Tiền moi con để trong ống tre dưới chân phản, đủ cho con Ớt tái khám và cho con Nhút đóng học. Cái đài con mượn của bọ, con vô trong nớ có lương là con gửi tiền về chuộc lại. Con xin lỗi bọ mạ."

Chữ nào cũng quen. Cả câu cuối cùng cũng quen. Gần như từng chữ một, giống lá thư tôi đã viết, ba mươi sáu năm trước, trên cùng một cái gối.

— Hết chương 6 —

Mục lục Cái đài vỏ da nâu của bọ

  1. 1Cái đài vỏ da nâu11 phút đọc
  2. 2Cuốn sổ gửi tiền bìa xanh10 phút đọc
  3. 3Cái thùng dầu trong chái lưới10 phút đọc
  4. 4Rạng sáng ở rạn đá9 phút đọc
  5. 5Moi khô hàn miệng bằng ngọn nến10 phút đọc
  6. 6Người đàn bà áo bà ba lụa10 phút đọc
  7. 7Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh9 phút đọc
  8. 8Bản tin lúc năm giờ chiều11 phút đọc
  9. 9Hai chỉ vàng trong áo bông của mệ9 phút đọc
  10. 10Bản tin cuối cùng của năm9 phút đọc

Về truyện này

Cái đài vỏ da nâu của bọ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →