AI Truyện
Cái đài vỏ da nâu của bọ

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Bản tin cuối cùng của năm

Cái đài vỏ da nâu của bọ · Chương 10/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Bản tin cuối cùng của năm

Ông Ba Thục đứng ngoài cổng, không bước vào.

Ông gầy đi gần một nửa. Cái áo sơ mi trắng bỏ trong quần tây ngày nào giờ là cái áo bộ đội cũ bạc màu, cổ áo sờn. Đôi giày da bóng lộn giờ là đôi dép cao su cắt từ lốp xe. Tóc ông bạc trắng, cắt ngắn sát da đầu. Ông cầm một cái túi cói nhỏ.

Người ta bảo ông ra tù được hai tháng. Ông về sống với thằng Lộc, đứa con trai bọ tôi vớt lên ở cửa lạch năm bảy tám, giờ chạy xe ôm ngoài bến xe Vinh. Ông bán nước chè chén ở cổng bến.

– Con Nhút. – Ông nói, khi tôi ra tới cổng. Ông không gọi tôi là cháu, ông gọi tên, như gọi một người ngang hàng. – Mi còn nhớ tau không?

– Cháu nhớ, ông ạ.

Ông gật đầu. Ông nhìn qua vai tôi, nhìn căn nhà gạch ba gian, nhìn cái sân lát gạch đỏ, nhìn cái thuyền nan có gắn máy nổ nằm trên bãi ngoài kia.

– Nhà mi khá rồi. – Ông nói. – Tốt.

Mạ đi ra. Mạ đứng sau lưng tôi, chùi tay vào vạt áo, không mời ông vào, cũng không đuổi ông đi. Mạ chỉ đứng đó.

– Chị Kỷ. – Ông Ba Thục cúi đầu.

– Anh Ba.

Ba người đứng ở cổng một lúc lâu không ai nói gì. Ngoài bãi, tiếng máy nổ thuyền nhà ai đang chạy thử, phành phạch.

– Tôi đến để nói với con bé ni một câu. – Ông Ba Thục nói với mạ. – Nói xong tôi đi.

Mạ gật đầu.

Ông quay sang tôi.

– Cái hôm mạ mi lên rút tiền, mi đứng sau lưng mạ mi, mi xòe sáu ngón tay. – Ông nói. – Tau thấy. Tau ngồi trong bàn trong, tau thấy hết. Một đứa con nít mười lăm tuổi, đứng nhìn cái bàn thu tiền của tau bằng con mắt của người đi đòi nợ. Tau làm cái nghề nhìn người hai chục năm, tau biết cái mắt đó.

Tôi không nói gì.

– Tau trả đủ cho mạ mi vì bọ mi vớt thằng Lộc. – Ông nói tiếp. – Cái đó mi biết rồi. Nhưng cái mi không biết là chiều hôm đó, sau khi hai mẹ con mi về, còn bốn người đàn bà bãi ngang lên gửi tiền. Tau không nhận. Tau bảo hợp tác xã đủ vốn rồi, không nhận thêm. Bốn người đó về, cầm tiền về. Đó là lần đầu tiên trong một năm trời tau từ chối tiền gửi.

Ông dừng lại, nuốt nước bọt, như cái hôm ở bàn trong.

– Tau từ chối là vì cái mắt của mi. Tau sợ cái mắt đó. Tau nghĩ: nếu một đứa con nít nhìn ra, thì chẳng mấy chốc cả xã nhìn ra. Tau tính chuyện chạy. – Ông cười, cái cười méo xệch. – Rứa đó. Mi không cứu được một nhà đâu. Mi cứu được năm nhà. Mà cũng tại mi mà tau chạy sớm hơn một tháng. Mi muốn hiểu sao thì hiểu.

Ông đặt cái túi cói xuống bậc cổng.

– Chè búp. – Ông nói. – Tau hái trên đồi nhà thằng Lộc. Biếu bọ mạ mi.

Ông quay lưng đi. Mạ gọi với theo:

– Anh Ba. Mai Tết rồi. Anh đợi đó.

Mạ chạy vào bếp. Mạ quay ra, ôm theo hai cái bánh chưng vừa vớt, còn nóng hôi hổi, buộc lạt tre xanh. Mạ dúi vào tay ông Ba Thục. Ông cầm hai cái bánh, đứng ngây ra, rồi cúi đầu thật thấp, giống hệt bọ tôi cúi đầu trước chú Doãn năm nào.

Ông đi. Mạ đứng ở cổng nhìn theo.

– Mạ ơi, – tôi nói, – năm nhà, mạ ạ.

– Ừ. – Mạ nói. – Mạ nghe rồi.

Mạ quay sang nhìn tôi. Mạ bốn mươi sáu tuổi, tóc đã có sợi bạc, khóe mắt đã có nếp nhăn. Bốn năm trước, ngồi trên bậc miếu ở ngã ba, mạ hỏi tôi "Mi biết chi?". Đêm mạ đi đưa tiền cho mệ Tịu, mạ hỏi "Răng mi biết?". Tôi chưa bao giờ trả lời.

– Mạ không hỏi nữa đâu. – Mạ nói, như đọc được ý tôi. – Mạ nghĩ rồi. Con của mạ, mạ không cần biết hết.

Tết Giáp Tuất năm ấy, căn nhà gạch ba gian chật kín người.

Anh Đường và chị Sen về từ sáng ba mươi, chị Sen bế thằng cu Bin mới được tám tháng, mặt tròn như cái bánh giầy, má đỏ như má mẹ nó. Anh Đường vào nhà là đi thẳng ra bãi, xem lại cái máy nổ thuyền của bọ, lau từng con ốc, như người ta lau ảnh thờ.

Chị Thoa về muộn nhất. Chị làm y sĩ ở trạm xá xã được nửa năm, đứng cạnh cô Hường, cô Hường sắp về hưu. Chiều ba mươi Tết, có một bà đẻ ở xóm trên chuyển dạ, chị ở lại trạm xá đến tận chập tối. Khi chị về, áo blouse trắng vẫn chưa kịp thay, vạt áo dính một vệt máu khô, chị cười rạng rỡ như người vừa đi hội về:

– Con gái! Ba cân hai! Khóc to như loa xã!

Con Ớt mười tuổi, chạy ra ôm chị. Con bé giờ cao gần bằng tôi, tóc tết hai bím, học lớp năm, hát hay nhất trường. Cái tai trái của nó không nghe rõ bằng tai phải, ông bác sĩ bảo sẽ không bao giờ được như cũ, nhưng nó nghe được tiếng chị Thoa gọi từ ngoài cổng. Thế là đủ.

Thằng Khoái mười lăm tuổi, đã đi học việc ở hiệu ông Kính Lúp gần một năm. Nó về Tết mang theo một cái túi vải đựng đầy đồ nghề: tua vít, mỏ hàn, cuộn thiếc, cái kính lúp nhỏ ông thầy cho. Ông già đã yếu lắm, ông bảo qua Tết nó lên ngồi chỗ ông, ông ngồi bên cạnh chỉ thôi. Cả xóm bãi ngang giờ đài hỏng, đồng hồ chết, cái chi cũng đem đến cho thằng Khoái. Nó sửa không lấy tiền người già.

Còn tôi.

Tôi mười chín tuổi. Tôi học hết cấp ba, đỗ tốt nghiệp, không thi đại học. Không phải vì nhà không có tiền. Mà vì tôi đã sống một đời người, và tôi biết mình thích gì.

Bà Cửu bán chè xanh ở ga Vinh về hưu vào tháng Chín. Bà gọi tôi đến, đưa cho tôi cái góc sân ga bà ngồi hai mươi năm, cái giỏ ủ ấm tích bằng rơm, và một câu dặn: "Người đi tàu đói lắm, con ạ. Người nghèo cũng biết ăn ngon". Qua Tết, tôi sẽ dựng ở đó một cái quán cơm nhỏ. Cơm trắng, cá thu kho nước mắm Sen, canh moi nấu rau ngót, cà pháo muối. Mỗi suất giá bằng một túi moi khô ngày xưa nhân lên vài lần. Tôi đã tính rồi, tôi tính giỏi lắm.

Hai mươi lăm năm đứng bếp căng tin, tôi đã nấu cho người lạ ăn mà không biết tên họ. Lần này, tôi sẽ nấu ở quê mình.

Chiều ba mươi, có tiếng máy thuyền cập bãi. Không phải thuyền xóm tôi. Một chiếc thuyền gỗ sơn xanh đỏ, to gấp đôi thuyền nan, mũi vẽ hai con mắt. Ông Sáu Mực lội nước vào bờ, bụng vẫn to tròn, áo phanh ngực, tay xách một cái lồng tre phủ vải.

Thằng Khoái đang ngồi ở hiên hàn lại dây cái quạt cho mệ Tịu. Nó nhìn thấy cái lồng, mỏ hàn trong tay khựng lại.

Ông Sáu Mực đặt cái lồng xuống sân, kéo tấm vải ra. Trong lồng là một con gà trống tơ, lông đen ánh tía, mào đỏ chót, cái đầu ngẩng cao y hệt một con gà khác cả xóm từng biết.

– Con của Ô Tía. – Ông nói. – Lứa đầu. Con bố già rồi, tau giữ lại cho nó dưỡng già bên nớ, nó quen chỗ rồi. Con ni tau đem trả mi. Coi như tiền lãi cái đài.

Thằng Khoái đặt mỏ hàn xuống. Nó đi tới, quỳ xuống cạnh cái lồng, thò tay vào. Con gà tơ mổ một cái vào ngón tay nó, rồi đứng yên cho nó vuốt lưng.

– Nó mổ giống bố nó. – Thằng Khoái nói, giọng nghèn nghẹn.

Ông Sáu Mực cười khà khà. Bọ mời ông vào uống chén rượu, ông xua tay, bảo chiều ba mươi phải về cúng. Lúc lội nước ra thuyền, ông còn ngoái lại nói với bọ:

– Anh Kỷ ạ, thằng con anh đi bộ tám cây số ôm con gà sang đổi cái đài. Tau sống năm mươi năm chưa thấy đứa mô như rứa. Anh có phúc.

Bọ đứng ở mép nước, không trả lời. Nhưng tối đó, lúc thằng Khoái ngồi ăn cơm, bọ gắp cho nó cái đùi gà, thứ xưa nay chỉ dành cho bọ.

Đêm giao thừa, cả nhà ngồi quanh mâm cỗ. Bọ thắp hương lên bàn thờ, khấn ông bà, khấn mệ nội. Bọ khấn dài hơn mọi năm, lẩm bẩm những điều không ai nghe rõ. Khi bọ khấn xong, quay lại, tôi thấy mắt bọ đỏ.

– Khói hương cay quá. – Bọ nói.

Không ai cãi.

Sáng mùng một, tôi dậy từ năm giờ. Trời còn tối, gió bấc thổi lạnh buốt. Tôi đi ra hiên.

Bọ đã ngồi đó. Bọ ngồi đúng chỗ cũ, trên cái chiếu cói, khoác cái áo bông. Trên đùi bọ là cái đài vỏ da nâu. Không phải cái đài mới của thằng Khoái. Cái đài cũ, vết xước hình chữ thập ở góc, quai da đã được thằng Khoái thay bằng một sợi dây dù xanh.

Bọ kéo ăng ten. Xoay núm. Tiếng rè rè, rồi giọng người đọc tin, đều đều, như mọi buổi sáng của ba mươi năm đi biển:

"...Vùng biển từ Thanh Hóa đến Quảng Bình, gió đông bắc cấp năm, có lúc cấp sáu, giật cấp bảy. Biển động. Sóng cao hai đến ba mét...".

Bọ nghe hết. Bọ tắt đài. Bọ vỗ nhẹ lên vỏ da như vỗ đầu một con chó ngoan.

– Mai không ra. – Bọ nói.

Tôi ngồi xuống cạnh bọ trên cái chiếu.

– Bọ ơi, bật lại cho con nghe với.

Bọ liếc tôi.

– Hết rồi. Mi muốn nghe chi?

– Con muốn nghe bản sau. Bản sáu giờ.

Bọ nhìn tôi một lúc, rồi cười, cái cười khàn của người hút thuốc lào cả đời. Bọ đặt cái đài vào lòng tôi.

– Thì mi cầm. Mi bật.

Tôi ôm cái đài vào ngực. Vỏ da ấm hơi người. Ngoài kia, biển bắt đầu sáng lên từ phía chân trời, màu xám bạc, rồi màu cá đối. Những chiếc thuyền nằm trên cát, chiếc nào cũng nguyên vẹn. Tiếng gà gáy từ đầu xóm vọng xuống.

Đến sáu giờ, tôi xoay núm. Tiếng nhạc hiệu vang lên. Tôi nghe hết bản tin, từ chữ đầu tiên đến chữ cuối cùng. Lần này, không gập lại vội.

— Hết —

Mục lục Cái đài vỏ da nâu của bọ

  1. 1Cái đài vỏ da nâu11 phút đọc
  2. 2Cuốn sổ gửi tiền bìa xanh10 phút đọc
  3. 3Cái thùng dầu trong chái lưới10 phút đọc
  4. 4Rạng sáng ở rạn đá9 phút đọc
  5. 5Moi khô hàn miệng bằng ngọn nến10 phút đọc
  6. 6Người đàn bà áo bà ba lụa10 phút đọc
  7. 7Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh9 phút đọc
  8. 8Bản tin lúc năm giờ chiều11 phút đọc
  9. 9Hai chỉ vàng trong áo bông của mệ9 phút đọc
  10. 10Bản tin cuối cùng của năm9 phút đọc

Về truyện này

Cái đài vỏ da nâu của bọ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →