AI Truyện
Cái đài vỏ da nâu của bọ

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Cái thùng dầu trong chái lưới

Cái đài vỏ da nâu của bọ · Chương 3/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Cái thùng dầu trong chái lưới

Cái chái lưới sau nhà có mùi của mọi thứ đã từng xuống biển: lưới ngâm vỏ cây cho bền, phao xốp, dây thừng mục, vỏ ốc. Sáng mùng mười một, khi cả nhà còn ngủ, tôi chui vào đó bằng lối cửa sau, cầm theo ngọn đèn dầu nhỏ.

Cái thùng nằm trong góc, sau đống lưới cũ, phủ một tấm bao tải. Tôi không mở nắp. Tôi chỉ cúi xuống ngửi. Mùi dầu hỏa, và lẫn bên dưới một mùi hăng hắc, ngai ngái, như mùi cái bếp lò rèn của lão Hưng khi lão đổ nước vào thép nóng.

Tôi đứng đó, tay cầm đèn, và nhớ.

Kiếp trước, buổi sáng rằm tháng Hai năm chín mươi, tôi đang ngồi vá lưới với mạ thì nghe một tiếng nổ trầm, xa, như ai đánh trống dưới nước. Chừng nửa tiếng sau, thằng Khoái chạy về, mặt trắng bệch, ống quần ướt sũng tới bẹn. Nó không nói được, chỉ chỉ tay ra biển. Người ta khiêng anh Đường về trên một tấm cửa gỗ tháo vội. Bàn tay trái của anh quấn trong cái áo của anh Tạo, cái áo đã đỏ sẫm.

Anh sống. Anh nằm ở bệnh viện tỉnh hai mươi mốt ngày. Anh về nhà với một ống tay áo buộc túm ở cổ tay. Người yêu của anh, chị Sen con nhà bán nước mắm ở đầu xóm, đi lấy chồng mùa thu năm ấy. Anh không bao giờ đi biển nữa. Anh uống rượu từ năm hai mốt tuổi đến năm năm mươi tư tuổi, cái năm gan anh không chịu được nữa.

Tôi đặt đèn xuống. Tôi biết tôi không được đụng vào cái thùng ấy. Tôi là một người đầu bếp, tôi chỉ biết đến lửa bếp, và tôi biết cái thứ nằm trong thùng kia không phải thứ con người nên cầm bằng tay không hiểu biết.

Tôi đi ra, đóng cửa chái lại, và đi tìm anh Đường.

Anh đang ở ngoài bãi, ngồi trên mạn thuyền, khâu lại chỗ nan bị rách bằng sợi mây. Bàn tay trái của anh giữ nan, bàn tay phải luồn mây, nhanh, đều, gọn như tay mạ gói bánh. Tôi đứng nhìn hai bàn tay ấy đến mức anh ngẩng lên.

– Chi rứa?

– Anh đừng đi rằm tháng Hai.

Mũi kim mây dừng lại giữa chừng.

– Đi mô?

– Ra rạn đá ngoài doi cát. Với anh Tạo.

Anh Đường đứng phắt dậy. Anh hai mươi tuổi, cao hơn tôi một cái đầu, vai u lên vì kéo lưới. Anh túm cổ áo tôi, không mạnh, nhưng đủ cho tôi phải nhón chân.

– Đứa mô nói với mi?

– Không đứa mô hết. Con thấy cái thùng.

– Mi vào chái lưới à?

– Con vào.

Anh buông tôi ra. Anh nhìn quanh. Bãi vắng, chỉ có mấy con chó gầy đang bới cát tìm xương cá.

– Nhút, – anh nói, giọng hạ xuống, gần như năn nỉ, – mi đừng nói với bọ. Anh làm một chuyến thôi. Một chuyến. Ngoài rạn đá có đàn cá đối, đàn cá mú, anh Tạo đi thăm rồi. Một chuyến là đủ tiền mua cái máy nổ cũ của ông Khanh. Có máy rồi thì không phải chèo, không phải đợi gió. Mi biết bọ chèo thuyền nan ba chục năm rồi, lưng bọ cong như con tôm chưa?

– Em biết.

– Rứa thì mi để anh làm.

– Không.

– Răng?

Tôi muốn nói: vì anh sẽ mất bàn tay trái, cái bàn tay đang giữ nan thuyền kia. Vì chị Sen sẽ đi lấy chồng. Vì anh sẽ uống rượu ba mươi năm và chết ở tuổi năm mươi tư trong một gian nhà mà chính anh không nhớ ai đã xây. Nhưng tôi đã thử nói với mạ bằng chuyện "nằm mơ", và tôi biết anh Đường không phải mạ. Anh sẽ cười.

– Vì cái thứ trong thùng không biết anh là ai. – Tôi nói. – Nó không biết anh là con bọ Kỷ, không biết anh có người yêu, không biết anh khéo tay. Nó nổ là nổ.

Anh Đường nhìn tôi như nhìn một con cá lạ mắc lưới.

– Mi học nói rứa ở mô?

Tôi không trả lời. Anh cúi xuống, nhặt sợi mây lên, luồn tiếp.

– Mi nói với bọ thì đừng có nhận anh là anh.

Ba hôm liền tôi không nói. Tôi theo dõi.

Tôi biết rằm tháng Hai còn xa. Tôi biết anh Tạo đến nhà tôi hai lần, đều lúc chạng vạng, đều đi thẳng ra sau chái. Tôi biết anh Đường đã đổi cái đồng hồ đeo tay, thứ duy nhất anh có giá trị, lấy hai chục lít dầu.

Chiều ngày thứ hai, tôi xách cái can nhựa lên đầu xóm mua nước mắm, để được đứng trong cái sân nhà chị Sen. Sân nhà ấy lúc nào cũng có mười mấy cái chượp sành ủ cá cơm, nắp đậy bằng mo cau, ruồi bay vo ve, mùi mặn chát tới tận cổng. Chị Sen đang rút nước mắm qua cái vòi tre, mắt không rời cái chai. Chị mười chín tuổi, hai má lúc nào cũng đỏ vì nắng, cổ tay đeo một sợi chỉ đỏ.

– Nhút đó à? Lấy mấy chai? – Chị hỏi.

– Một chai. – Tôi nói. Rồi tôi nói thêm, như đứa con nít buột miệng: – Chị Sen ơi, nhà chị đòi anh Đường nhiều lễ lắm à?

Chị Sen ngẩng lên, đỏ mặt hơn.

– Ai nói với mi rứa?

– Anh Đường nói anh phải có tiền mới cưới được chị.

Chị cúi xuống, vặn cái vòi tre lại. Một lúc lâu chị mới nói, nhỏ đến mức tôi phải ghé sát:

– Bọ chị đòi cái xe đạp. Chị thì không đòi chi. Chị chỉ sợ anh ấy làm liều. Mi về bảo anh ấy, chị chờ được.

Tôi xách chai nước mắm về, câu ấy nặng hơn cái chai. Kiếp trước, có lẽ chưa ai mang câu ấy về cho anh Đường.

Tôi biết thằng Khoái đã nghe được chuyện, vì nó cứ lảng vảng quanh chái lưới, mắt sáng như mắt mèo, và một tối nó thì thầm với tôi:

– Chị Nhút ơi, anh Đường bảo đi ra rạn thì cho em đi nhặt cá nổi. Cá chết nổi trắng cả mặt nước, nhặt bằng vợt, mỗi đứa được chia một rổ. Em nhặt bán lấy tiền mua cái cặp sách.

Tôi nắm vai nó, bóp mạnh đến mức nó kêu lên.

– Mi mà đi thì chị đánh gãy chân.

Nó giãy ra, giận dỗi bỏ đi. Kiếp trước, thằng Khoái là đứa đầu tiên chạy về báo tin. Lúc ấy tôi chưa bao giờ tự hỏi vì sao nó lại có mặt ở rạn đá.

Đến tối ngày mười ba tháng Hai, tôi nói với bọ.

Tôi chọn lúc bọ ngồi một mình ở hiên, bật đài nghe tin thời tiết biển. Cái đài vỏ da nâu đặt trên đùi bọ, ăng ten kéo hết cỡ, bọ ghé tai vào cái lưới sắt. Giọng người đọc tin rè rè giữa tiếng gió: "...gió nhẹ, biển êm, tầm nhìn xa trên mười cây số...". Bọ tắt đài, vỗ nhẹ lên vỏ da như vỗ đầu một con chó ngoan.

– Mai biển êm. – Bọ nói. – Ngày kia rằm, cá đi nhiều.

– Bọ, – tôi nói, – anh Đường giấu thuốc nổ trong chái lưới.

Bọ không quay lại. Bọ ngồi im đúng ba hơi thở. Rồi bọ đặt cái đài xuống bậc cửa, cẩn thận, đứng dậy đi ra sau nhà. Tôi nghe tiếng cửa chái mở, tiếng lưới bị kéo, tiếng bao tải rơi.

Rồi tiếng bọ gọi, không to, nhưng cả nhà đều nghe:

– Đường. Ra đây.

Bữa cơm tối hôm đó không ai ăn. Bọ đứng giữa sân, cái thùng dầu đặt dưới chân, đèn bão treo trên cái cọc phơi lưới hắt bóng bọ dài ra tới cổng. Anh Đường đứng đối diện. Mạ đứng ở cửa bếp, tay còn cầm đôi đũa cả. Chị Thoa ôm con Ớt vào trong buồng. Mệ nội ngồi trên phản, hỏi to: "Răng rứa? Răng rứa bây?" mà không ai trả lời mệ.

– Ai đưa cho mi? – Bọ hỏi.

Anh Đường im.

– Thằng Tạo à? Lão Hưng à?

Anh Đường vẫn im.

– Mi biết thằng Hòe xóm trên không? Năm bảy chín nó đánh mìn ở cửa lạch. Mi biết bây chừ nó ăn cơm bằng tay mô không?

– Con biết.

– Biết mà mi vẫn làm?

– Bọ chèo thuyền nan ba chục năm. – Anh Đường ngẩng lên, giọng run nhưng cứng. – Ba chục năm bọ được cái chi? Cái nhà tranh dột. Cái lưng cong. Nhà người ta có máy nổ, người ta ra xa, người ta về đầy khoang. Nhà mình đợi gió. Con hai mươi tuổi rồi, bọ ạ. Con muốn cưới con Sen. Nhà nó đòi...

Cái tát của bọ nghe đanh như tiếng gỗ gãy. Anh Đường lảo đảo một bước. Mạ kêu lên. Thằng Khoái đứng nép sau cột nhà khóc òa.

Bọ không tát cái thứ hai. Bọ đứng nhìn bàn tay mình như nhìn một bàn tay của người khác. Rồi bọ cúi xuống, ôm cái thùng lên ngực, cẩn thận như ôm một đứa trẻ ngủ, và đi ra cổng.

– Bọ đi mô? – Mạ gọi.

– Đem trả lão Hưng. – Bọ nói, không quay lại. – Con lão, con tau. Lão với tau tự xử.

Bóng bọ khuất trong con ngõ cát. Anh Đường đứng giữa sân, một bên má đỏ in năm ngón tay. Anh nhìn tôi. Anh không nói gì, nhưng cái nhìn ấy tôi nhớ mãi: không phải giận, mà là cái nhìn của người vừa bị bán đứng bởi chính đứa em mình cõng đi học hồi nó năm tuổi.

Anh quay lưng đi vào buồng. Cánh cửa liếp đóng sập.

Gần nửa đêm bọ mới về. Bọ kể với mạ, giọng thì thào trong bóng tối mà tôi nằm trong buồng vẫn nghe: lão Hưng đã đánh thằng Tạo một trận, lão hứa sáng mai đem cái thùng lên nộp công an xã, khai là nhặt được ngoài bãi. Chuyện ấy rồi sẽ thôi. Mạ hỏi: "Rứa là hết à?" Bọ không trả lời.

Tôi nằm cạnh con Ớt, nghe tiếng sóng, và tôi nghĩ: hết rồi. Tôi đã đổi được một số phận. Tôi đã làm anh Đường ghét tôi, nhưng anh sẽ giữ được bàn tay trái. Một bàn tay đổi một cái nhìn, tôi chịu được.

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

Tôi tỉnh dậy vì lạnh. Cái lạnh của một chỗ trống. Bên phải tôi là con Ớt, nhưng bên trái, chỗ thằng Khoái thường nằm dồn cả chăn sang phía nó, tấm chiếu trống trơn và đã nguội.

Tôi ngồi bật dậy. Ngoài trời còn tối mịt, chưa có tiếng gà. Tôi rón rén bước sang buồng bên. Cửa liếp buồng anh Đường hé mở. Cái phản của anh trống.

Tôi chạy ra bãi. Gió đông thổi lành lạnh, mặt biển phẳng lì như tấm tôn, đúng như cái đài đã báo. Dưới ánh trăng mười ba, tôi nhìn thấy dãy thuyền nan nằm úp trên cát, và tôi nhìn thấy ở chỗ anh Đường thường để cái thuyền thúng nhỏ của anh, chỉ còn lại một vệt kéo dài trên cát, thẳng xuống mép nước.

Bên cạnh vệt ấy, nhỏ xíu, là dấu một đôi dép nhựa trẻ con.

— Hết chương 3 —

Mục lục Cái đài vỏ da nâu của bọ

  1. 1Cái đài vỏ da nâu9 phút
  2. 2Cuốn sổ gửi tiền bìa xanh10 phút đọc
  3. 3Cái thùng dầu trong chái lưới10 phút đọc
  4. 4Rạng sáng ở rạn đá9 phút đọc
  5. 5Moi khô hàn miệng bằng ngọn nến10 phút đọc
  6. 6Người đàn bà áo bà ba lụa10 phút đọc
  7. 7Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh9 phút đọc
  8. 8Bản tin lúc năm giờ chiều11 phút đọc
  9. 9Hai chỉ vàng trong áo bông của mệ9 phút đọc
  10. 10Bản tin cuối cùng của năm9 phút đọc

Về truyện này

Cái đài vỏ da nâu của bọ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →