AI Truyện
Cái đài vỏ da nâu của bọ

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Rạng sáng ở rạn đá

Cái đài vỏ da nâu của bọ · Chương 4/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Rạng sáng ở rạn đá

Tôi không biết chèo thuyền. Ở cái xóm này con gái mười lăm tuổi biết vá lưới, biết gánh cá, biết bán cá, nhưng chèo thuyền nan ra khơi là việc của đàn ông. Kiếp trước tôi rời làng trước khi kịp học.

Nên tôi chạy về đánh thức bọ.

Bọ ngủ ở cái phản ngoài hiên, mặc nguyên áo, chân còn dính cát. Tôi lay bọ hai lần bọ mới mở mắt. Tôi không cần nói hết câu. Tôi chỉ nói "Thằng Khoái" và chỉ tay ra biển, và bọ đã đứng dậy.

Hai bố con đẩy cái thuyền nan xuống nước. Không có cây lăn, không có ai đứng mũi hét dô ta. Bọ ghé vai vào đuôi thuyền đẩy, tôi kéo dây ở mũi, chân lún trong cát ướt, nước lạnh cắt vào bắp chân như dao. Thuyền trượt xuống, nổi lên, chòng chành. Bọ nhảy lên, đỡ tôi lên theo, rồi đứng ở đuôi cầm cái mái chèo dài.

Bọ chèo một mái, kiểu người miền biển chèo đứng, người lắc qua lắc lại theo nhịp. Tôi ngồi ở mũi, hai tay bám mạn. Trăng đã ngả về phía tây, vàng nhạt. Phía đông chân trời đã hửng một vệt màu cá đối.

– Rạn đá mô bọ? – Tôi hỏi.

– Ngoài doi cát, chỗ mũi Rồng. – Bọ nói, không ngừng chèo. – Hồi nhỏ bọ cũng ra đó lặn bắt tôm hùm.

Bọ không hỏi tôi làm sao biết. Bọ không hỏi gì hết. Có lẽ bọ cũng biết, có lẽ bọ đã đoán từ lúc ôm cái thùng ra khỏi nhà rằng con trai bọ chưa xong chuyện.

Doi cát dài chừng hai cây số, chạy chéo ra biển như cánh tay của một người đang nằm. Đầu doi cát là một dãy đá đen nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống, sóng vỗ trắng xóa quanh chân. Người làng gọi là mũi Rồng.

Khi thuyền vòng qua đầu doi, tôi thấy cái thuyền thúng.

Nó nhỏ, tròn, đan bằng tre trát dầu rái, chỉ đủ chỗ cho hai người lớn ngồi chen. Nhưng trong đó có ba bóng người. Anh Tạo ngồi ở giữa, khom lưng làm gì đó. Anh Đường ngồi ở mép thúng, cầm hai mái chèo ngắn giữ cho thúng khỏi trôi. Và thằng Khoái, cái thân hình bé tí, đang đứng, đúng thế, đứng lên trong cái thúng chòng chành, tay cầm cái vợt bắt cá dài gấp đôi người nó.

– Khoái! – Tôi hét.

Tiếng tôi bay đi trên mặt nước phẳng như tấm gương. Cả ba người trong thúng quay lại.

Tôi thấy anh Tạo giật mình. Tôi thấy trong tay anh có một cái gói tròn tròn bọc giấy dầu, và một sợi dây thò ra, đầu dây có một đốm đỏ. Anh Tạo lúng túng. Cái thúng nghiêng mạnh vì thằng Khoái quay người quá đà.

Mọi chuyện xảy ra trong thời gian ngắn hơn một câu nói.

Anh Đường buông cả hai mái chèo. Tay phải anh túm lấy cổ áo thằng Khoái, tay trái anh vòng qua bụng nó, và anh ngả người ra sau, kéo cả nó lẫn anh lộn khỏi mạn thúng xuống nước. Cái thúng lật úp theo. Anh Tạo bị hất văng sang phía ngược lại, cái gói trong tay anh tuột ra, rơi xuống nước, chìm.

– Úp xuống! – Bọ gầm lên sau lưng tôi, rồi bọ đẩy đầu tôi xuống đáy thuyền.

Tôi nằm úp mặt vào mấy tấm ván ướt tanh mùi cá. Tôi nghe một tiếng nổ trầm, không to như tôi tưởng, như tiếng ai đó đập một cái chày xuống mặt nước rất sâu. Thuyền nảy lên. Một làn nước mặn trùm lên lưng tôi.

Rồi im lặng.

Rồi tiếng thằng Khoái khóc, ré lên, the thé. Đó là tiếng hay nhất tôi từng nghe trong cả hai đời.

Tôi ngóc đầu dậy. Cách thuyền chừng hai chục sải, mặt nước sủi lên những bong bóng trắng, và bắt đầu có những vệt bạc nổi lên: cá. Cá đối, cá trích, mấy con cá mú lật bụng trắng. Gần chỗ cái thúng úp, anh Đường đang bơi một tay, tay kia kẹp thằng Khoái dưới nách, đầu nó ngửa lên khỏi mặt nước, miệng vẫn gào. Xa hơn một chút, anh Tạo ôm lấy mép thúng úp, mặt nhăn lại, một bên tai chảy ra một dòng gì đó sẫm màu.

Bọ chèo tới. Bọ vươn người, túm lấy thằng Khoái kéo lên thuyền như kéo một con cá to, rồi chìa mái chèo cho anh Đường. Anh Đường bám lấy, trèo lên, nằm vật ra đáy thuyền, thở như cái bễ lò rèn.

Tôi bò tới, cầm lấy hai bàn tay anh. Tôi lật đi lật lại. Mười ngón. Bàn tay trái đầy những vết xước của nan tre, móng tay tím vì lạnh, nhưng đủ. Đủ cả.

Anh Đường nhìn tôi làm việc ấy, và anh không rút tay về.

Bọ kéo nốt anh Tạo lên. Tai trái anh Tạo chảy máu, anh lắc đầu liên tục như người bị nước vào tai, nói to quá mức: "Tau không nghe được! Bên ni tau không nghe được!" Bọ xé vạt áo mình, gấp lại, bảo anh giữ chặt vào tai.

Trên đường về không ai nói câu nào. Mặt trời lên khỏi biển, đỏ như lòng đỏ trứng vịt. Phía sau thuyền, đàn cá chết vẫn trôi lềnh bềnh, bạc trắng một vùng. Không ai vớt.

Công an xã đến nhà tôi trước bữa trưa.

Hai người, một anh còn trẻ đội mũ có sao, một chú lớn tuổi mặc áo bộ đội cũ. Chú lớn tuổi là chú Doãn, người xóm trên, ngày xưa đi biển cùng bọ. Chú ngồi xuống cái ghế đẩu ở hiên, nhận bát nước chè xanh mạ rót, uống một ngụm, rồi đặt bát xuống.

– Anh Kỷ ạ, – chú nói, – cả bãi nghe tiếng nổ. Người ta kéo nhau ra vớt cá từ sáng. Lão Hưng sáng ni đem nộp cái thùng, khai nhặt được. Trong thùng thiếu mất mấy gói. Tôi không cần hỏi thiếu đi mô.

Bọ gật đầu.

– Thằng Tạo thủng màng nhĩ, đang nằm trạm xá. – Chú Doãn nói tiếp. – May. Năm ngoái ở xã bên có đứa chết.

– Tôi biết. – Bọ nói.

– Thằng Đường đâu?

Anh Đường đi ra từ trong buồng. Anh đã thay quần áo khô, tóc còn ướt, mặt trắng bệch. Anh đứng trước chú Doãn, hai tay buông thõng.

– Dạ, cháu đây.

Chú Doãn nhìn anh rất lâu.

– Mi đứng đó cho tau coi hai bàn tay. – Chú nói.

Anh Đường giơ hai tay ra. Chú Doãn nhìn, gật gù, rồi quay sang bọ:

– Anh Kỷ, tôi làm biên bản. Thằng Tạo với thằng Đường bị phạt, tiền phạt nhà anh với nhà lão Hưng chia nhau. Lần này là lần đầu. Lần sau tôi không giữ được.

Bọ đứng dậy, cúi đầu thật thấp. Bọ tôi chưa bao giờ cúi đầu trước ai như thế.

Tiền phạt là năm mươi nghìn. Mạ lấy từ cái hũ sành chôn dưới chân cột bếp. Tôi đứng nhìn mạ moi lớp đất lên, mở lớp ni lông, đếm tiền. Mạ đếm chậm, đếm hai lần, rồi lấp hũ lại, dậm đất cho chặt. Mạ không nhìn tôi. Nhưng lúc đi ngang qua, mạ đặt bàn tay lên đầu tôi một chút, rất nhanh, như người ta đặt tay lên cái nồi để thử xem còn ấm không.

Chiều hôm ấy tôi mang một bát cháo cá lên trạm xá cho anh Tạo. Mạ sai tôi đi, mạ bảo: "Đi đi, con người ta cũng là con."

Trạm xá xã là một dãy nhà cấp bốn quét vôi xanh nhạt, có bốn cái giường sắt, một cái tủ kính đựng thuốc gần như trống. Anh Tạo nằm ở giường trong cùng, tai trái băng một miếng gạc to tướng. Lão Hưng ngồi ở mép giường, hai bàn tay to như hai cái mo cau đặt trên đầu gối, đen nhẻm muội than.

Lão nhìn bát cháo, rồi nhìn tôi, rồi quay mặt đi.

– Mạ mi nấu à?

– Dạ.

Lão im một lúc. Rồi lão nói, không nhìn ai:

– Nhà tau gửi hợp tác xã ba trăm nghìn. Mất hết. Thằng Tạo nó giữ lại mấy gói là vì rứa. Nó bảo đánh vài mẻ cá, gỡ lại cho bọ. Tau đánh nó rồi. Tau đánh nó rồi mà...

Lão không nói tiếp được. Anh Tạo nằm quay mặt vào tường, không nghe thấy gì, hoặc giả vờ không nghe thấy.

Tôi đặt bát cháo lên cái tủ đầu giường và đi về. Trên đường về tôi nghĩ: cái hợp tác xã đóng cửa ở xã này đã thả ra bao nhiêu thùng dầu vào bao nhiêu cái chái lưới khác nữa, mà tôi không biết, và không cứu được.

Tối hôm đó thằng Khoái lên cơn sốt, nằm mê man nói nhảm: "Cá nổi... cá nổi trắng...". Chị Thoa ngồi chườm khăn cho nó đến sáng. Tôi ngồi cạnh chị.

– Nhút, – chị hỏi nhỏ, – răng mi biết mà dậy được đúng lúc?

– Em đi tiểu đêm. – Tôi nói. – Thấy chỗ thằng Khoái nằm trống.

Chị Thoa nhìn tôi. Chị không tin, nhưng chị không hỏi nữa. Chị là người như thế, người không bao giờ hỏi đến câu thứ hai.

Ba hôm sau anh Đường đi Vinh.

Anh bảo có một người quen ở công trường xây nhà ở phía bắc thành phố, cần thợ phụ hồ, mỗi ngày trả công, có lán ở. Anh gói hai bộ quần áo, một đôi dép, cái chăn mỏng, buộc lên cái xe đạp cọc cạch của chị Thoa. Mạ khóc. Bọ ngồi ở hiên, không ra tiễn, chỉ vặn đài to hơn mọi khi.

Tôi theo anh ra tới đầu ngõ.

– Chị Sen bảo, – tôi nói, – chị chờ được.

Anh dừng xe lại. Anh không quay đầu.

– Nó bảo rứa à?

– Dạ. Hôm em đi mua nước mắm.

Anh ngồi im trên yên xe. Một lúc lâu. Rồi anh bật cười, một tiếng ngắn, như ho.

– Con ni. – Anh nói. – Mi cái chi cũng biết.

Anh đạp đi được mấy vòng thì dừng lại, chống chân, quay về phía tôi.

– Nhút. Anh đi rồi, mi coi chừng con Thoa giùm anh.

– Răng ạ?

– Hôm qua anh nghe mấy đứa con gái xóm trên nói, sau mùa moi o Kiều về làng. O Kiều tuyển người vô Sài Gòn làm may. Con Thoa mấy hôm ni cứ hỏi dò. Nó tưởng anh không biết.

Anh đạp xe đi. Cái lưng áo bạc màu của anh nhỏ dần trên con đường cát trắng, giữa hai hàng phi lao đang reo trong gió.

Tôi đứng ở đầu ngõ, và tôi thấy như có ai vừa đổ một gáo nước lạnh từ gáy xuống.

O Kiều.

Ba mươi sáu năm nay, tôi chưa bao giờ nhắc đến cái tên ấy. Kể cả với chính mình.

— Hết chương 4 —

Mục lục Cái đài vỏ da nâu của bọ

  1. 1Cái đài vỏ da nâu9 phút
  2. 2Cuốn sổ gửi tiền bìa xanh10 phút đọc
  3. 3Cái thùng dầu trong chái lưới10 phút đọc
  4. 4Rạng sáng ở rạn đá9 phút đọc
  5. 5Moi khô hàn miệng bằng ngọn nến10 phút đọc
  6. 6Người đàn bà áo bà ba lụa10 phút đọc
  7. 7Hiệu sửa đài trong ngõ chợ Vinh9 phút đọc
  8. 8Bản tin lúc năm giờ chiều11 phút đọc
  9. 9Hai chỉ vàng trong áo bông của mệ9 phút đọc
  10. 10Bản tin cuối cùng của năm9 phút đọc

Về truyện này

Cái đài vỏ da nâu của bọ là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →