AI Truyện
Cái đài hẹn hai mươi tám Tết

🏠 Gia đình & vả mặt

Mùa phượng cuối của bà Thêu

Cái đài hẹn hai mươi tám Tết · Chương 8/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Mùa phượng cuối của bà Thêu

– Ông mày mua cua thế này là người ta lừa ông mày rồi.

Bà Thêu nằm trên cái giường kê sát cửa sổ tầng hai, nơi nhìn xuống được cả phố Hàng Kênh, cầm con cua đồng lên, lật ngửa cái yếm, ấn ngón tay cái vào. Cái yếm lún xuống như bấm vào bánh đúc.

– Cua óp. Toàn nước. Gạch đâu mà gạch. Mây, cầm xuống bảo ông mang ra trả bà Liên, bảo bà Thêu bảo thế.

Con Mây mười hai tuổi, tóc buộc đuôi ngựa, đeo cái kính cận gọng nhựa đỏ, cầm túi cua chạy xuống cầu thang. Năm nay nó đã cao gần bằng bà, nhưng vẫn là đứa chạy việc của cả nhà, như hồi ba tuổi. Ông nội nó đang ngồi ở quầy, đeo kính lão, cúi xuống một cái ti vi màn hình phẳng của khách.

– Ông ơi, bà bảo cua óp. Bà bảo ông mang ra trả bà Liên.

– Ông biết rồi. Ông nghe thấy rồi.

– Thế ông có đi trả không?

Ông Hoạch tháo kính, nhìn túi cua, rồi nhìn lên trần nhà, chỗ có cái giường của bà.

– Không trả. Bảo bà là ông mua cua óp vì cua óp rẻ. Tiền thừa ông mua cho bà cân nhãn.

Con Mây chạy lên. Nó dịch đúng từng chữ, không thêm không bớt. Từ năm lên bảy nó đã thôi dịch sai.

Bà Thêu nghe xong, nằm im một lúc. Rồi bà bảo nó mở cái túi ni lông thứ hai ông vừa mang lên. Nhãn lồng Hưng Yên, quả to, vỏ mỏng, chùm nào cũng còn nguyên lá.

– Ông mày ngày xưa không biết mua cái gì ra hồn – bà nói, bóc một quả nhãn đưa cho cháu. – Bốn mươi năm bà dạy, giờ mới biết mua nhãn.

Năm 2016, bà Thêu sáu mươi ba tuổi. Bà đã đợi được sáu năm như bà tự hứa với mình trong cái đêm cưới con Sen. Sáu năm ấy, ba tháng một lần bà đi "lễ chùa", ông Hoạch không bao giờ hỏi chùa nào. Đến mùa xuân năm nay, bà không đi lễ chùa được nữa. Bà ngất ở hàng nước, ngay trước mặt khách, cái ấm nhôm đổ ra hè, nước chè chảy loang tới tận chân cột điện.

Từ bệnh viện về, ông Hoạch biết hết. Ông không mắng. Ông cũng không hỏi vì sao bà giấu. Ông chỉ ngồi cạnh giường bà, cầm tay bà, nói:

– Lần này thì anh không im ba năm được đâu. Em không có ba năm.

Bà Thêu bật cười, cười tới mức ho sặc sụa, con Mây phải chạy đi lấy nước.

Từ đó, ông dọn giường bà lên tầng hai, cạnh cửa sổ, để bà nằm mà vẫn nhìn được xuống phố, được nghe tiếng rao, được thấy hàng nước của bà, giờ do con dâu Hằng trông thay. Ông mang cả cái đài vỏ gỗ lên, đặt trên cái kệ đối diện giường, để bà nhìn. Ông bảo dưới nhà ẩm.

Bà biết ông nói dối. Bà không vạch.

Một buổi chiều tháng Sáu, hoa phượng nở đỏ cả một khúc phố, bà Thêu gọi con Mây lại gần.

– Đóng cửa lại.

Con Mây đóng cửa. Bà vỗ vỗ vào mép giường. Nó ngồi xuống.

– Cái đài kia của ai, cháu biết không?

– Của bà cố – con Mây nói ngay. – Bố cháu kể rồi. Bố cháu kể từ hồi cháu lên tám. Cả chuyện bà cố bỏ đi, cả chuyện cái nồi cháo, cả chuyện… – Nó ngập ngừng, liếc bà. – Cả chuyện hôm hai mươi tám Tết.

Bà Thêu nhìn đứa cháu. Một lúc lâu, bà gật đầu.

– Bố mày kể đúng không?

– Đúng ạ. Bố cháu bảo bà sợ mất ông.

– Bố mày nói nhẹ cho bà đấy. – Bà Thêu quay mặt ra cửa sổ. – Bà không chỉ sợ. Bà ác. Người ta đứng trước mặt bà, tóc bạc, tay bỏng, người ta xin gặp con người ta, bà đuổi người ta đi như đuổi con chó. Bà còn nói câu "đừng đến làm khổ anh ấy". Bà làm khổ ông mày bốn mươi năm, mà bà bảo người khác đừng làm khổ ông.

Con Mây không biết nói gì. Nó cầm tay bà. Bàn tay bà gầy, da mỏng như giấy pơ-luya, lạnh dù trời tháng Sáu.

– Nghe bà nói này. Mấy năm ông không nói với bà, bà bảo ông là bà đi lễ chùa. Có lần bà đi chùa thật. Có lần bà đi khám. Còn có bốn lần, bà bắt xe lên Hòn Gai.

Con Mây mở to mắt sau cặp kính đỏ.

– Bà đi tìm bà cố?

– Bà đi khắp chợ Hạ Long. Hỏi từng sạp cá. Bà Thìn nào? Chợ này năm bà Thìn. Bà Thìn còng, tay bỏng, bán chả mực ở bến xe. Có người nhớ, có người không. Lần thứ tư, có một bà bán mắm bảo bà biết. Bảo bà Thìn ấy mất lâu rồi, mất từ trước năm hai nghìn. Có một thằng con trai tên Tuyển, ngày xưa làm thợ lò ở Hà Tu, rồi nghỉ, rồi chuyển đi đâu không biết.

– Thế bà có tìm ông Tuyển không?

– Bà không kịp. – Bà Thêu cười, cái cười mỏng như vỏ nhãn. – Lần thứ tư ấy là năm 2010. Từ đấy bà không đi xa được nữa. Bà cũng không dám kể với ông. Kể ra bảo bà cố mất rồi, ông mày… – Bà dừng lại. – Ông mày vẫn tin bà cố còn sống đâu đó. Cái cuộn dây ông cất trong hộp sắt ấy, ông vẫn còn cất. Ông vẫn đợi.

Bà quay lại, nhìn thẳng vào đứa cháu.

– Mây. Bà nợ ông một người. Bà không trả được. Cháu trả hộ bà.

– Cháu trả thế nào hả bà?

– Bà không biết. – Bà Thêu nhắm mắt. – Cháu là đứa thông minh nhất nhà này. Cháu tìm cách.

Con Mây ngồi rất lâu bên giường bà, cầm bàn tay lạnh, nhìn ra cửa sổ. Dưới phố, mẹ nó đang bán nước. Ông nội nó đang ngồi ở quầy, cúi xuống cái ti vi màn hình phẳng. Bố nó đang đứng ở tủ kính, giơ một cái điện thoại lên cho khách xem. Tiệm "bên trái bên phải" giờ đã có thêm tấm biển nhựa sáng đèn, và bên phải đã bán điện thoại màn hình cảm ứng, mỏng như cái bánh đa.

Bà Thêu mất vào một đêm cuối tháng Chín.

Hôm ấy trời có gió mùa đầu tiên. Gió lạnh lùa qua khe cửa sổ, làm nửa tờ phiếu buộc ở quai cái đài vỏ gỗ trên kệ xoay chầm chậm. Ông Hoạch ngồi bên giường bà, cầm tay bà, từ chập tối tới nửa đêm. Gần một giờ sáng, bà mở mắt, nhìn ông, nói một câu rất nhỏ. Con Mây ngồi ở cuối giường, nghe không rõ. Nó chỉ thấy ông nội nó cúi xuống thật gần, gật đầu, rồi nói lại, cũng rất nhỏ:

– Ừ. Anh biết.

Đám tang bà Thêu, cả phố Hàng Kênh đến. Chú Lâm xe ôm giờ đã già, lưng còng, đứng ở cửa đón khách. Ông Toàn đã mất từ năm ngoái, con trai ông thay bố đọc điếu văn, và anh ta cũng bắt đầu bằng chữ "kính thưa", như bố. Cô Sen bay từ Sài Gòn ra, dắt theo hai đứa con, thằng Quý đi sau xách mấy bao đồ, mặt đỏ gay vì khóc từ trên máy bay. Mấy bà bán hàng chợ Sắt mang tới một mâm xôi gấc, bảo bà Thêu ngày xưa thích nhất xôi gấc của bà Mùi. Cả phố ngồi kín hai bên vỉa hè, dưới mấy cái rạp bạt xanh.

Ông Hoạch không khóc. Ông ngồi bên linh cữu ba ngày, mặc áo sô, không nói, không ăn được bao nhiêu. Thằng Đông lo hết mọi việc. Đến tối thứ ba, sau khi khách về hết, nó thấy bố đứng dậy, đi lên tầng hai, rồi đi xuống, hai tay bê cái đài vỏ gỗ.

Ông đặt cái đài lên bàn thờ, bên cạnh tấm ảnh bà Thêu. Tấm ảnh chụp hồi bà năm mươi tuổi, tóc uốn xoăn, cười tươi, đôi mắt láo liên như mắt người bán hàng.

– Bố… – Đông gọi.

– Để bà trông hộ – ông nói.

Ông thắp ba nén hương, cắm vào bát. Khói hương bay lên, quấn quanh nửa tờ phiếu buộc ở quai đài, rồi tan.

Cô Sen ngồi xuống cạnh bố, đầu tựa vào vai ông như cái đêm đám cưới anh Đông mười bảy năm trước.

– Bố ơi. Bố vào Bến Tre ở với con một thời gian. Nhà con có vườn dừa, bố ngồi hóng gió. Anh Quý cũng muốn thế.

– Bố ở đây.

– Ở đây một mình bố buồn.

– Không một mình. – Ông Hoạch hất cằm về phía bàn thờ. – Bà mày còn đấy. Đồ của khách còn đấy. Bố đi thì ai trả đồ cho khách.

Cô Sen nhìn cái quầy đầy những ti vi, quạt điện, nồi cơm điện xếp chồng chờ sửa, cái nào cũng buộc nửa tờ phiếu. Rồi cô nhìn lên bàn thờ, nơi cái đài vỏ gỗ nằm cạnh tấm ảnh mẹ. Cô không nói thêm. Cô biết bố cô. Ông sẽ không bao giờ rời cái tiệm này khi trên giá còn một món đồ chưa trả xong cho khách.

Đêm ấy, con Mây không ngủ. Nó nằm trên cái giường tầng hai, cái giường bà nằm suốt năm tháng, ngửi mùi dầu gió còn vương trên gối. Nó nghĩ tới câu bà nói. Bà nợ ông một người. Cháu trả hộ bà.

Gần sáng, nó lẻn xuống nhà. Ông nội nó đã ngủ gục trên cái ghế đẩu cạnh bàn thờ, đầu dựa vào tường, cái chăn mỏng bố nó đắp cho tuột xuống một nửa. Con Mây kéo chăn lên cho ông. Rồi nó rón rén đi tới quầy, mở ngăn kéo dưới cùng.

Cái hộp sắt tây vẫn ở đó. Nắp vẽ hoa mẫu đơn, sơn bong gần hết. Nó mở nắp ra. Giữa đám ốc vít đủ cỡ, có một cuộn dây đồng nhỏ bằng đốt ngón tay út, bọc trong mẩu giấy bóng kính đã ố vàng.

Nó cầm cuộn dây lên, đặt vào lòng bàn tay. Nhẹ như một hạt lạc. Bốn mươi năm ông nó cất cái thứ nhẹ như hạt lạc này, và chưa một lần lắp nó trở lại.

Con Mây lấy cái điện thoại trong túi áo ngủ ra, chụp một tấm ảnh cuộn dây trong lòng bàn tay mình. Rồi nó đi tới bàn thờ, chụp thêm một tấm cái đài vỏ gỗ, nửa tờ phiếu buộc ở quai, tấm ảnh bà cười tươi bên cạnh. Rồi nó mở phần ghi chú trong máy, gõ mấy chữ bà nói chiều tháng Sáu: Tuyển. Thợ lò. Hà Tu. Bà cố mất trước năm 2000.

Nó đặt cuộn dây trở lại hộp, đậy nắp, đóng ngăn kéo.

Lúc nó quay lại, ông nội nó đã mở mắt. Ông ngồi trên ghế đẩu, nhìn nó, không biết đã nhìn từ bao giờ.

Hai ông cháu nhìn nhau trong ánh sáng xám của buổi sáng đầu tiên không có bà. Con Mây tưởng ông sẽ mắng. Ông không mắng. Ông chỉ hỏi, giọng khàn đặc vì ba ngày không nói:

– Cháu tìm gì?

Con Mây đứng thẳng lưng, như đứng giữa bếp hồi ba tuổi.

– Ông ơi. Ông dạy cháu sửa đồ đi.

— Hết chương 8 —

Mục lục Cái đài hẹn hai mươi tám Tết

  1. 1Hai mươi tám Tết năm Mậu Ngọ10 phút đọc
  2. 2Cái ti vi của cả phố10 phút đọc
  3. 3Ba mươi hai cái máy câm10 phút đọc
  4. 4Đám cưới mất điện10 phút đọc
  5. 5Nước lên tới bậc thứ ba10 phút đọc
  6. 6Người đàn bà áo bông chàm10 phút đọc
  7. 7Ba năm nói chuyện qua đứa cháu10 phút đọc
  8. 8Mùa phượng cuối của bà Thêu10 phút đọc
  9. 9Con bé quay video10 phút đọc
  10. 10Hai mươi tám Tết năm Giáp Thìn10 phút đọc

Về truyện này

Cái đài hẹn hai mươi tám Tết là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →