Chương 5: Nước lên tới bậc thứ ba
Nước lên tới bậc thứ ba thì Đông bắt đầu hét.
– Bố! Bố ơi! Hàng của con! Cái tủ kính!
Bốn giờ chiều mà trời tối như bảy giờ tối. Gió từ phía biển quật dọc phố Hàng Kênh, giật tung tấm tôn che hàng nước của bà Thêu, cuốn nó bay qua mấy mái nhà như cuốn một tờ giấy. Mưa không rơi xuống mà quất ngang, nước trên mặt đường đã ngập quá đầu gối, đục ngầu, lềnh bềnh rác, lá bàng, và một chiếc dép tổ ong của ai đó cứ trôi qua trôi lại trước cửa tiệm như đang tìm chủ.
Năm 2005, tiệm nhà Hoạch đã chia làm hai. Bên trái, sát tường, vẫn là quầy sửa đài của ông, giờ sửa cả đầu đĩa, ti vi màu, máy giặt cỡ nhỏ, bất cứ thứ gì có dây điện và có ốc vít. Bên phải là cái tủ kính dài hai mét của Đông, sáng choang ánh đèn tuýp, xếp kín điện thoại di động. Điện thoại gập, điện thoại trượt, điện thoại có ăng ten thò ra như cái râu, điện thoại màn hình màu mới về, cái nào cũng đắt bằng cả tháng tiền sửa đồ của bố nó.
Cả phố gọi tiệm nhà Hoạch là tiệm "bên trái bên phải". Bên trái ông bố sửa cái cũ, bên phải thằng con bán cái mới. Hàng xóm đùa bảo nhà này buôn bán khép kín, bên phải bán xong, ba năm sau khách mang sang bên trái sửa. Ông Hoạch không cười câu đùa ấy. Đông thì cười, và in câu ấy lên tấm biển quảng cáo.
Bây giờ cái tủ kính bên phải đứng trong nước tới bậc thứ ba, và nước vẫn lên.
– Bố! Phụ con nhấc cái tủ!
Hoạch không nghe. Ông đứng trên cái ghế đẩu, vươn hai tay lên nóc tủ gỗ, nơi cái đài vỏ gỗ đã nằm hai mươi bảy năm. Nước đã dâng tới mép ghế. Ông với được quai đài, kéo xuống, ôm vào ngực như ôm một đứa trẻ, rồi lội nước ra phía cầu thang.
– Bố!
Ông đặt cái đài lên bậc thang thứ mười, chỗ cao nhất trước khi rẽ lên gác. Rồi ông quay lại, lội ra chỗ quầy của mình, mở ngăn kéo dưới cùng, lấy ra cái hộp sắt tây đựng ốc vít. Cái hộp đã gỉ ở bốn góc, nắp vẽ hình hoa mẫu đơn đã bong gần hết sơn. Ông nhét cái hộp vào túi áo ngực, cài khuy lại.
Rồi ông mới lội sang phía con trai.
Hai bố con, mỗi người một đầu, nhấc cái tủ kính lên kê trên hai cái ghế nhựa chồng nhau. Nước vẫn lên. Họ dỡ điện thoại ra cho vào túi ni lông, chuyền lên gác. Thêu đứng ở đầu cầu thang đón từng túi. Hằng ở trên gác, bế con Mây một tuổi rưỡi, dỗ nó khỏi khóc vì sợ tiếng gió rít qua khe ngói.
Đến bảy giờ tối, nước dừng lại ở bậc thứ năm. Cái két sắt nhỏ bên quầy của Đông, đựng giấy tờ và tiền bán hàng mấy hôm, ngập trong nước từ chiều. Hai cái ti vi khách gửi sửa ở góc tiệm, ngập. Cả trăm cái linh kiện trong khay đồ nghề của Hoạch, ngập.
Cái đài vỏ gỗ trên bậc thang thứ mười, khô ráo.
Cả nhà ngồi trên gác, ăn mì tôm úp trong bóng tối, bên ngọn nến cắm vào cái bát. Ngoài trời gió vẫn rú. Con Mây ngủ trên đùi mẹ. Đông ngồi dựa lưng vào tường, mặt đỏ gay, không ăn. Một lúc lâu, nó nói, giọng không to, nhưng rõ:
– Bố cứu cái đài trước.
Hoạch đang húp mì, không ngẩng lên.
– Tủ của con ba trăm triệu tiền hàng. Bố đứng nhìn con kêu, bố đi cứu cái đài của khách. Cái đài hai mươi bảy năm không ai thèm đến lấy.
– Đông. – Thêu gắt. – Im.
– Con không im. Mẹ, mẹ không thấy à? Năm con mười tuổi, bố tát con vì cái đài. Hôm nay, bố bỏ mặc con vì cái đài. Bố có bao giờ nói cho con biết nó là cái gì không? Cả nhà này có ai biết không?
Không ai nói gì. Ngọn nến lép bép. Hằng ôm con, nhìn chồng, nhìn bố chồng, rồi nhìn xuống.
Hoạch đặt bát mì xuống chiếu. Ông nhìn con trai rất lâu. Rồi ông đứng dậy, đi xuống mấy bậc thang, ngồi xuống bậc thứ chín, ngay cạnh cái đài, quay lưng lại cả nhà.
Đông còn muốn nói nữa. Thêu đặt tay lên đầu gối nó, bóp mạnh. Nó im.
Gần mười giờ, cái điện thoại trong túi Đông rung lên. Sóng chập chờn, tiếng con Sen từ Sài Gòn vọng ra lúc được lúc mất, lẫn trong tiếng rè như rang muối.
– Anh ơi! Ti vi đưa tin bão vào Hải Phòng! Nhà mình có sao không? Bố mẹ đâu?
– Ngập. – Đông nói cộc lốc. – Người thì không sao.
– Cho em nói với bố.
Đông ngần ngừ, rồi đưa điện thoại cho mẹ. Thêu bước xuống mấy bậc thang, chìa cái máy ra trước mặt chồng. Hoạch nhìn cái điện thoại sáng xanh trong bóng tối như nhìn một con đom đóm. Ông cầm lấy, áp vào tai, hơi xa một chút, như ông vẫn cầm cái micro.
– Bố à? Bố ơi, nhà mình ngập có sâu không bố? Đồ của bố có sao không?
– Đài vẫn khô.
Đầu bên kia im một lúc. Rồi có tiếng con gái ông bật cười, cười mà nghẹn, cái kiểu cười của người ở xa ngàn cây số, đang lo mà không biết làm gì cho đỡ lo.
– Con biết ngay mà. Bố còn nói được câu ấy là nhà mình vẫn ổn.
Ông trả máy cho vợ, quay lại ngồi im.
Gần nửa đêm, con Mây thức giấc, tuột khỏi đùi mẹ, bò lổm ngổm ra đầu cầu thang. Hằng định kéo con lại, nhưng nó đã tụt xuống từng bậc, mông trước, chân sau, như cách trẻ con xuống cầu thang. Đến bậc thứ chín, nó dừng lại cạnh ông nội. Nó nhìn cái đài vỏ gỗ. Nó giơ bàn tay bé xíu, đặt lên cái núm vặn còn nguyên.
Cả nhà nín thở. Thằng Đông nhổm dậy.
Hoạch không giằng ra. Ông nhìn bàn tay cháu nội đặt trên cái núm nhựa đen. Rồi ông nhấc con bé lên, đặt vào lòng, để nó ngồi đó, hai tay ôm lấy cái đài, đầu tựa vào ngực ông. Con bé ngủ lại ngay, miệng còn chóp chép như đang bú.
Đông ngồi xuống chỗ cũ, không nói gì nữa. Ngọn nến cháy hết, tắt. Trong bóng tối, cả nhà nghe tiếng gió, tiếng nước óc ách dưới chân cầu thang, và tiếng ông Hoạch hát ru cháu rất khẽ, một câu hát chẳng ai trong nhà từng nghe ông hát, giọng miền biển, đuôi chữ kéo dài như sóng vỗ.
Sáng hôm sau, bão tan. Trời trong vắt như được ai lau. Nước rút dần, để lại trên nền nhà một lớp bùn dày hai đốt ngón tay, mùi tanh nồng, mùi cống, mùi rác. Cả phố Hàng Kênh ra đường dọn. Người xúc bùn, người khiêng đồ ướt ra phơi, người đứng nhìn những mái tôn bay mất, chép miệng. Thằng bé nhà chú Lâm xe ôm nhặt được một con cá trắm to bằng bắp tay mắc trong ống cống, giơ lên khoe khắp phố.
Đông dọn tủ kính của nó. Hai mươi ba cái điện thoại để trong ngăn dưới không kịp lấy ra, ngâm nước cả đêm. Nó bày ra một tấm bạt, đếm đi đếm lại, mặt xám ngoét. Hằng ngồi cạnh, lau từng cái bằng khăn khô, lau mà biết là vô ích.
Buổi trưa, Hoạch lặng lẽ ngồi xuống cạnh con trai. Ông cầm một cái điện thoại ướt lên, lật mặt sau, tháo pin.
– Đừng bật – ông nói. – Đứa nào bật là chập. Tháo hết pin ra. Phơi chỗ râm, không phơi nắng. Bố có cồn, lau mạch bằng cồn rồi ủ trong thùng gạo ba ngày. Chừng mười cái còn cứu được.
Đông nhìn bố. Ông đã lấy cái tua vít đầu ngôi sao, cái tua vít mài từ đinh thép mười năm trước, ra khỏi túi áo.
– Bố biết sửa điện thoại à?
– Không biết. Ngồi xem mày tháo lắp hai năm, cũng biết chỗ nào là chỗ nào.
Hai bố con ngồi trên tấm bạt giữa hè phố đầy bùn, tháo từng cái điện thoại một. Không ai nhắc lại chuyện đêm qua. Đông biết bố không xin lỗi. Bố nó chưa xin lỗi ai bao giờ. Bố nó chỉ ngồi xuống cạnh nó, tháo pin cho nó, thế là xin lỗi rồi.
Nhưng câu hỏi thì vẫn còn đó. Đông biết nó còn đó. Bố biết nó còn đó.
Người hỏi câu ấy, cuối cùng, không phải Đông.
Tối hôm ấy, sau khi Đông và Hằng bế con về nhà riêng ở ngõ bên, sau khi cả phố đã tắt đèn đi ngủ vì mệt lả, Thêu ngồi một mình trong tiệm. Bà lau cái đài vỏ gỗ. Bà chưa bao giờ được phép lau nó. Hai mươi bảy năm, bà chỉ nhìn nó từ dưới lên. Bây giờ nó nằm trên quầy, ngay trước mặt chị, nửa tờ phiếu ở quai đã ngả màu nâu như lá chè khô.
Hoạch đi tắm xong, đứng ở cửa bếp nhìn vợ. Ông không giằng lấy cái đài như hai mươi bảy năm trước. Ông chỉ đứng nhìn.
Thêu lau xong mặt trước, lau sang hai bên hông. Đến cái góc sứt một miếng to bằng móng tay cái, bà dừng lại. Bà nhìn hai chữ cái khắc bằng mũi dao, đã mòn gần hết, phải đưa sát vào đèn mới thấy: "B.T."
– Anh Hoạch.
– Ừ.
Bà đặt khăn xuống. Bà đã tập câu này sáu năm, từ đêm đám cưới thằng Đông. Bà đã tập nó trong bếp, ngoài chợ, lúc đi lễ chùa, lúc nằm trên gác nghe chồng ngáy. Câu ấy dài lắm, có đầu có cuối, có cả phần xin lỗi. Nhưng bây giờ, khi mở miệng ra, bà chỉ còn lại có mấy chữ.
– Bà Thìn là ai?
Hoạch đứng yên ở cửa bếp. Cái khăn mặt vắt trên vai ông nhỏ nước xuống nền gạch, từng giọt, từng giọt, đọng lại thành một vũng nhỏ cạnh chân.
– Em biết rồi, phải không?
Thêu không trả lời. Bà chỉ nhìn chồng, và bà biết, cái nhìn ấy trả lời thay bà.
Hoạch đi tới, kéo cái ghế đẩu, ngồi xuống bên kia quầy, đối diện vợ, ở đúng cái chỗ mà hai mươi bảy năm trước ông đã ngồi nhìn người đàn bà áo bông chàm đặt cái đài xuống. Ông móc trong túi áo ngực ra cái hộp sắt tây, cái hộp ông đã nhét vào túi giữa lúc nước ngập ngang đùi. Ông đặt nó lên quầy, cạnh cái đài. Nắp hộp vẽ hoa mẫu đơn, sơn bong gần hết.
Ông không mở nó ra. Ông đặt bàn tay lên nắp hộp, như người ta đặt tay lên một cuốn kinh trước khi thề.
– Anh kể cho em nghe – ông nói. – Kể một lần thôi. Rồi đừng bao giờ hỏi lại nữa.
Ngoài phố, một chiếc xe rác chạy qua, đèn vàng quét ngang cửa kính rồi tắt. Thêu gật đầu.
Đó là đêm dài nhất trong gần ba mươi năm vợ chồng của họ.
— Hết chương 5 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe