Chương 3: Ba mươi hai cái máy câm
Ba mươi hai cái máy cát-xét cầm tay xếp thành ba hàng trên chiếu, và không cái nào kêu.
Đông đã thử đủ cả. Lắp pin mới, lắp pin cũ, cắm điện qua cục biến thế, đập nhẹ vào lưng, đập mạnh vào lưng. Ba mươi hai cái máy màu bạc, bóng loáng, chữ nước ngoài in nổi trên nắp, cái nào cũng còn thơm mùi nhựa mới, và cái nào cũng câm như hến. Bấm nút "Play", băng không quay. Bấm nút "Rec", đèn không sáng. Cái thứ ba mươi hai, nó bấm đến lần thứ năm thì cái nút gãy hẳn, rơi xuống chiếu, lăn vào gầm giường.
Nó ngồi giữa phòng trọ ở Móng Cái, mười bảy tuổi, nợ bốn triệu hai.
Bốn triệu hai năm ấy là một gia tài. Hai triệu là tiền nó gom được sau một năm chạy hàng cho người ta, đi đi về về trên những chuyến xe khách nóng như cái lò. Một triệu là vay của thằng Quang cùng phòng trọ. Một triệu hai là tiền của mẹ. Mẹ không cho nó. Mẹ đưa cho nó cầm hộ phần hụi tháng Mười để nó mang lên đóng giúp bà chủ hụi trên này, và nó đã không đóng.
Cái người bán cho nó lô máy là một gã gầy gò có cái răng vàng, xưng là "anh Toại", bảo đây là hàng tồn kho của một công ty bên kia biên giới, thanh lý giá bằng một phần ba. Gã mở cho nó thử hai cái. Hai cái ấy kêu rất to. Hai cái ấy gã giữ lại "làm mẫu". Ba mươi hai cái còn lại gã đóng thùng giúp, dán băng dính kín mít, bảo về mở ra kẻo bụi.
Sáng hôm sau Đông đi tìm gã ở chợ. Cái sạp nơi gã ngồi giờ là một bà bán khô mực.
– Toại nào? Răng vàng à? Ối, thằng ấy không có sạp. Nó đi mượn chỗ của người ta, mỗi tháng một chỗ.
Đông về phòng trọ, nằm ngửa nhìn mấy cái màng nhện trên trần, nghe thằng Quang ngáy. Nó nghĩ tới mẹ nó. Nó nghĩ tới cái ngày nó bỏ học lớp mười một, cầm cái cặp sách đặt lên quầy, nói với bố rằng con không học nữa, con đi buôn. Bố nó đang hàn một cái đài, không ngẩng lên. Mẹ nó khóc. Rồi mẹ nó không khóc nữa, mẹ nó gọi nó ra đầu ngõ, dúi cho nó năm trăm nghìn, bảo đi thì đi, nhưng Tết phải về.
Bố nó chỉ nói đúng một câu, câu ấy nó nhớ mãi, vì nó chọc vào cái chỗ đau nhất:
– Đồ người ta làm ra để vứt, mày đi buôn về làm gì.
Bố nó ghét đồ Tàu. Không phải ghét người. Ghét đồ. Bố nó bảo đồ ngày trước làm ra để sửa, cái đài hỏng tụ thì thay tụ, hỏng loa thì thay loa, dùng được ba chục năm. Đồ bây giờ làm ra để hỏng là vứt. Ốc vít không vặn được. Mạch đổ keo kín mít. Thợ chẳng còn việc gì mà làm. Thời của bố nó qua rồi, Đông nghĩ vậy, và nó cũng nói vậy với bố, trước khi xách ba lô ra bến xe.
Giờ nó ngồi giữa ba mươi hai cái máy hỏng, và cái thời của nó cũng chưa tới.
Hai mươi lăm Tết, Đông bắt xe về. Xe khách dừng ở bến Hòn Gai nghỉ nửa tiếng. Trời âm u, gió từ vịnh thổi vào lạnh buốt. Nó xuống xe mua cái bánh gai, thấy một bà cụ bán chả mực ngồi trên cái ghế nhựa thấp ở góc bến, trước mặt là cái mẹt tre lót lá chuối. Bà cụ còng, quấn khăn len màu cháo lòng, tay rán chả trên cái bếp than tổ ong.
– Cháu mua hai cái thôi bà. Cháu hết tiền rồi.
Bà cụ gắp hai miếng chả mực, gói vào lá chuối, rồi như sực nhớ ra điều gì, gắp thêm một miếng nữa.
– Bà cho. Cháu đi đâu đấy?
– Cháu về Hải Phòng ạ.
– Người Hải Phòng à? Phố nào?
– Hàng Kênh ạ. Nhà cháu sửa đài.
Đôi đũa trong tay bà cụ dừng lại giữa chừng. Miếng chả đang gắp rơi trở lại chảo mỡ, xèo lên một tiếng.
– Sửa đài à? – bà hỏi lại, giọng khàn. – Ông bố cháu sửa đài ở Hàng Kênh?
– Vâng. Bà biết bố cháu ạ?
Bà cụ nhìn nó. Nhìn rất lâu, lâu tới mức Đông thấy ngượng. Bàn tay bà cầm đôi đũa có một vết sẹo bỏng da co lại như con đỉa. Rồi xe khách bóp còi, phụ xe gào lên gọi khách, và Đông cầm gói chả chạy đi. Chạy được mấy bước, nó ngoái lại. Bà cụ vẫn ngồi đó, đôi đũa vẫn chống trong chảo, nhìn theo.
Nó ăn ba miếng chả mực trên xe, ngon tới mức nó còn liếm cả lá chuối. Đến Uông Bí thì nó đã quên khuôn mặt bà cụ. Đến Hải Phòng thì nó chỉ còn nhớ vị chả mực.
Nó về nhà lúc tám giờ tối. Nó kéo cái thùng các-tông vào tiệm, đặt xuống trước quầy, rồi đứng đó, không biết nói câu đầu tiên thế nào.
Mẹ nó ôm chầm lấy nó, sờ khắp mặt khắp vai như kiểm hàng. Con Sen mười hai tuổi chạy ra, hỏi anh có mua gì cho em không. Bố nó ngồi ở quầy, kính lão trễ xuống mũi, nhìn cái thùng.
– Cái gì đấy?
Đông mở thùng. Nó lấy ra một cái máy, đặt lên quầy, đẩy về phía bố.
– Ba mươi hai cái. Hỏng cả. Con bị lừa.
Mẹ nó thở hắt ra một tiếng. Đông biết mẹ đang nghĩ tới tiền hụi. Nó quay sang mẹ.
– Tiền hụi tháng Mười con chưa đóng. Con lấy rồi. Con xin lỗi mẹ.
Mẹ nó đứng sững. Rồi mẹ nó liếc sang bố nó, rất nhanh, rồi lại nhìn nó, và Đông hiểu rằng bố nó không hề biết chuyện mẹ đưa tiền hụi cho nó cầm lên Móng Cái. Mẹ nó cũng có cái để giấu.
Bố nó cầm cái máy lên, xoay xoay, lật mặt dưới. Bố nó lấy cái tua vít đầu nhỏ nhất trong khay, thử vào con vít. Con vít không phải đầu chữ thập, mà là một cái lỗ hình sao năm cánh.
– Ốc này không vặn được bằng đồ của mình đâu bố – Đông nói. – Con thử rồi.
Bố nó không trả lời. Bố nó đặt cái máy xuống, đứng dậy, vào bếp ăn nốt bát cơm nguội để phần từ chiều, rồi lên gác ngủ.
Đông ngồi một mình dưới nhà với cái thùng. Nó đã chuẩn bị cho một trận mắng. Nó đã nghĩ sẵn những câu cãi lại. Nhưng bố nó không mắng, và cái im lặng ấy nặng hơn mọi câu mắng.
Sáng hai mươi sáu, Đông dậy muộn. Xuống nhà, nó thấy bố đang ngồi ở quầy, trước mặt là cái máy cát-xét đã tháo tung, bên cạnh là một cái tua vít lạ hoắc. Đầu tua vít là một cái đinh thép được mài thành hình ngôi sao năm cánh, mài bằng tay, bằng cái đá mài ở góc nhà. Chuôi là một đoạn tay nắm bàn chải đánh răng cũ cắt ngắn.
Bố nó không nói gì. Đông cũng không dám hỏi. Nó ngồi xuống cái ghế đẩu phía bên kia quầy, ngồi xem.
Cái máy hỏng không phải vì mạch. Bố nó chỉ cho nó bằng đầu mỏ hàn, không nói một lời. Một sợi dây nhỏ nối từ hộp pin lên mạch bị hàn ẩu, chỉ dính vào bằng một giọt thiếc mỏng. Gõ nhẹ là bong. Xe khách lắc suốt mấy trăm cây số, cả ba mươi hai cái đều bong đúng một chỗ ấy. Bố nó hàn lại, vặn ốc, lắp pin. Bấm "Play". Cái máy kêu lên một bài hát tiếng nước ngoài, to và trong như máy mới.
Đông ngồi im. Rồi nó với lấy cái mỏ hàn thứ hai trên giá.
Bố nó đẩy cái máy thứ hai sang cho nó, vẫn không nói gì.
Hai bố con ngồi hai bên quầy từ sáng hai mươi sáu tới tối hai mươi chín. Ăn cơm trên quầy. Mẹ nó bưng nước ra, đứng xem một lúc, rồi đi vào bếp, không chen vào câu nào. Con Sen ngồi lau từng cái máy đã sửa xong bằng cái khăn mùi xoa, xếp vào thùng. Cái máy thứ ba mươi hai bị gãy nút, bố nó gọt một cái nút mới từ miếng nhựa vỏ đài hỏng, gọt tới nửa đêm, khít như nút thật.
Chiều ba mươi, Đông mang ba mươi hai cái máy ra chợ Sắt bán. Người đi sắm Tết đông như kiến. Nó bán hết trước khi chợ tan, giá gấp rưỡi giá nó mua. Nó về, đặt lên quầy một xấp tiền buộc dây chun, đẩy về phía mẹ.
– Tiền hụi của mẹ. Cả lãi.
Rồi nó đẩy một xấp nhỏ hơn về phía bố.
– Tiền công của bố.
Bố nó nhìn xấp tiền, nhìn nó. Bố nó đẩy xấp tiền trả lại.
– Bố không lấy tiền của mày.
– Thế bố lấy cái gì?
Bố nó im một lúc. Ngoài phố, đội lân của khu phố đã tập trống từ chiều, tiếng trống thình thình như ai đập vào cửa.
– Ra giêng đi học lại.
– Con không đi học lại đâu bố.
– Thế thì thôi.
Bố nó nói thôi, nhưng không có cái giọng thôi của những lần trước. Đông nghe ra điều đó. Nó ngồi xuống cạnh bố, nhìn lên nóc tủ, nơi cái đài vỏ gỗ vẫn nằm, mặt hậu còn hai cái kẹp sắt từ bảy năm trước chưa tháo ra.
– Bố.
– Gì.
– Bố sửa được ba mươi hai cái máy đổ keo kín mít, ốc hình ngôi sao. Thế sao cái đài kia bố không sửa?
Bố nó không trả lời. Bố nó với lấy bao thuốc lào trên quầy, nhồi một điếu, rít một hơi dài qua cái điếu cày, tiếng nước reo ùng ục trong ống tre. Khói thuốc tan dần mới nói:
– Có những cái không phải hỏng ở trong máy.
Đông định hỏi tiếp thì mẹ nó gọi ra sân bày mâm cúng tất niên.
Đêm giao thừa năm ấy, ăn xong bữa cơm, Đông xin phép bố mẹ ra ngoài. Mẹ nó hỏi đi đâu. Nó gãi đầu, bảo đi đón một đứa bạn.
– Bạn trai hay bạn gái? – con Sen hỏi to.
Đông đỏ mặt tới mang tai. Mẹ nó nhướng mày. Bố nó vẫn cúi xuống cái điếu cày, nhưng Đông thấy rõ khoé miệng bố hơi giật lên một cái.
Mười hai giờ kém mười lăm, Đông về, dắt theo một đứa con gái thấp bé, má đỏ vì rét, mặc cái áo khoác len màu cà rốt, hai tay ôm một cái nồi nhôm còn bốc hơi.
– Con chào bác, chào bác gái. Cháu là Hằng, bán bánh đa cua ở cổng chợ Sắt. Cháu mang nồi bánh đa cua sang mừng tuổi hai bác. Gạch cua cháu để riêng cho bác trai, anh Đông bảo bác thích ăn nhiều gạch.
Thêu nhìn đứa con gái. Rồi chị nhìn thằng con trai. Rồi chị nhìn chồng.
Hoạch đặt cái điếu cày xuống. Anh đứng dậy, đỡ lấy cái nồi nhôm, mở vung ra ngửi. Mùi gạch cua phi hành, mùi mắm tôm và mùi lá lốt ùa ra khắp tiệm, lấn cả mùi nhựa thông.
– Cháu nấu à?
– Vâng ạ. Mẹ cháu dạy.
– Ngon – Hoạch nói, chưa ăn thìa nào.
Cả nhà phá lên cười. Ngoài phố, trống lân giao thừa rền từ đầu phố tới cuối phố, cái đài nhà hàng xóm vặn hết cỡ phát lời chúc Tết. Giữa tiếng cười ấy, không ai để ý Đông vừa lén thò tay vào túi áo trong, sờ cái ví da nơi nó giấu tấm ảnh nhỏ bằng bao diêm. Tấm ảnh vẫn còn đó, nguyên vẹn. Cùng với một bí mật nó chưa sẵn sàng trả lại.
— Hết chương 3 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe