Chương 2: Cái ti vi của cả phố
Bảy giờ kém năm tối thứ Bảy, cả phố Hàng Kênh đã ngồi kín tiệm sửa đài nhà Hoạch, và cái ti vi vẫn chỉ hiện một màn tuyết trắng xoá kêu xèo xèo như chảo mỡ.
– Anh Hoạch ơi, vặn đi chứ! Sắp đến phim rồi!
– Ăng ten! Quay cái ăng ten đi!
– Đập vào nóc nó một cái là lên. Nhà tôi vẫn đập.
Hoạch không đập. Anh quỳ sau lưng cái ti vi đen trắng mười bốn in, tay cầm tua vít chỉnh một con biến trở bé bằng hạt đỗ, mắt không nhìn màn hình mà nhìn vào cái gương con anh dựng phía trước. Cái ti vi này không phải của nhà anh. Nó là của ông Phán bên phố Cầu Tre, gửi sửa từ thứ Hai, hẹn thứ Hai tuần sau lấy. Sửa xong từ chiều thứ Tư. Chỉ có điều, vào cái tối thứ Tư ấy, con Sen năm tuổi đã ngồi trước màn hình xem trọn một chương trình ca nhạc thiếu nhi, rồi chạy khắp ngõ khoe, và thế là đến tối thứ Năm, tiệm có mười bốn người. Tối thứ Sáu, hai mươi mốt. Tối nay, Thêu đếm được ba mươi hai cái đầu, chưa kể mấy đứa trẻ con đứng ngoài hè kiễng chân nhìn qua vai người lớn.
– Lên rồi! Lên rồi!
Màn tuyết tan ra, hiện lên một người đàn ông đội mũ phớt đang đứng trên sân ga. Cả tiệm im phắc. Ba mươi hai cái đầu cùng ngửa về một phía như ruộng lúa gặp gió.
Thêu đứng ở cửa, tay ôm cái khay nhôm đựng chè đỗ đen. Từ hôm thứ Năm chị đã nhận ra cái điều mà chồng chị không bao giờ nhận ra: người ta xem phim thì khát, mà khát thì phải uống. Chè đỗ đen hai trăm một cốc, nước chè xanh năm mươi một chén, thuốc lào hút thả cửa, ai hút thì tự lấy. Tối thứ Sáu chị bán được bằng ba ngày bán nước bình thường. Tối nay chị nấu gấp đôi.
– Thêu ơi, cho chị một cốc, ít đá thôi.
– Một cốc ít đá, chị Tâm hai trăm. Thằng Đông! Bưng ra cho bác Tâm.
Thằng Đông mười tuổi, cao hơn bạn cùng lớp nửa cái đầu, mặt giống bố như đúc, chỉ khác đôi mắt hay láo liên như mắt mẹ. Nó không thích bưng chè. Nó thích ngồi sát bố ở phía sau ti vi, xem bố chỉnh, xem những sợi dây đỏ dây xanh, những bóng đèn bé tí, những cái tụ đứng như người lính tí hon trên tấm mạch màu xanh lục. Nhưng bố nó không cho ngồi. Bố nó bảo đồ của khách, ngồi gần là lại mó.
Nó bưng cốc chè sang cho bác Tâm, làm sánh ra mu bàn tay một ít, liếm đi.
Phim chiếu được nửa tập thì ông Phán xuất hiện ở cửa.
Ông cao, gầy, mặc áo bành tô, đội mũ len, đứng chặn ánh đèn đường phía sau thành một cái bóng dài đổ vào tận giữa tiệm. Ông nhìn ba mươi hai cái đầu. Ông nhìn cái ti vi của mình. Ông nhìn khay chè trên tay Thêu.
– Anh Hoạch.
Cả tiệm quay lại. Hoạch đứng dậy từ sau cái ti vi, chân tê vì quỳ lâu, lảo đảo một bước.
– Bác Phán. Bác hẹn thứ Hai mà.
– Tôi đi qua. Tôi thấy đông quá, tôi tưởng nhà anh có đám.
Thêu đặt khay chè xuống quầy, chùi tay vào tạp dề, bước ra trước mặt chồng. Chị cười rất tươi, cái kiểu cười của người bán hàng chợ Sắt đã quen mặc cả với đủ hạng người.
– Bác ơi, bác vào đây, bác ngồi đây. Cái ti vi của bác nhà cháu sửa xong từ hôm thứ Tư rồi, nhưng nhà cháu bảo phải chạy thử ba buổi, mỗi buổi ba tiếng, xem nó có chập chờn không. Ti vi bóng đèn mà bác, nó nóng lên mới lòi bệnh. Nhà cháu cẩn thận lắm. Đây, cả phố làm chứng cho bác đây, chạy ba tối liền, không tắt lần nào.
– Không tắt lần nào! – Ba mươi hai cái đầu đồng thanh.
Ông Phán đứng yên một lúc. Rồi ông bỏ mũ len ra, ngồi xuống cái ghế đẩu chị kéo cho, cầm cốc chè đỗ đen chị dúi vào tay, và xem nốt nửa tập phim. Lúc về, ông không nói gì về tiền chạy thử, chỉ dặn thứ Hai sẽ cho thằng cháu sang bê.
Đêm ấy, nằm trên gác xép, Hoạch nói vào bóng tối:
– Em bịa giỏi thật.
– Không bịa thì hôm nay bố con anh đã bị ông ấy chửi cho vỡ mặt ra rồi.
– Anh chưa từng nói phải chạy thử ba buổi.
– Thì từ mai anh nói.
Anh im một lúc, rồi khẽ cười, cái cười hiếm hoi đến mức Thêu phải quay sang nhìn trong bóng tối cho chắc.
Thằng Đông nằm ở chiếu bên cạnh, giả vờ ngủ. Nó nghe hết. Và nó nghĩ: mẹ nó bịa được với ông Phán, thì nó cũng làm được một cái gì đó cho bố nó phải cười như thế.
Nó nghĩ tới cái đài vỏ gỗ trên nóc tủ.
Cả đời nó, cái đài ấy đã nằm đấy. Nó biết bò thì đã thấy cái đài. Nó biết đi thì đã bị mắng vì với tay lên tủ. Nửa tờ phiếu buộc ở quai đã ngả màu nước chè, chữ mờ gần hết, chỉ còn đọc được chữ "Thìn" và con số hai mươi tám. Năm ngoái nó hỏi mẹ cái đài của ai. Mẹ bảo của khách. Nó hỏi sao khách không lấy. Mẹ bảo khách quên. Nó hỏi sao bố không sửa. Mẹ đập vào mông nó một cái, bảo đi học bài.
Nó đã học được nhiều thứ. Nó biết hàn mối nối, vì ngồi xem bố hàn nghìn lần. Nó biết con tụ phồng bụng là tụ hỏng. Nó biết bố nó sửa được mọi cái đài trên đời này, trừ cái đài kia. Vậy thì chắc cái đài kia phải có bệnh gì kinh khủng lắm. Nếu nó tìm ra bệnh, nó sẽ đưa cho bố, và bố sẽ cười.
Chủ nhật, bố nó đi giao cái âm li cho một đám cưới bên kia sông Tam Bạc. Mẹ nó ngồi hàng nước ngoài hè. Con Sen ngủ trưa trên chõng.
Thằng Đông kéo cái ghế đẩu tới sát tủ. Đứng lên ghế vẫn không với tới. Nó kê thêm cái hòm gỗ đựng đồ nghề lên ghế, trèo lên hòm. Cái hòm chòng chành. Nó đặt một tay lên nóc tủ cho vững, tay kia kéo cái quai đài.
Cái đài nặng hơn nó tưởng. Nặng như một con gà mái.
Nó vừa kéo được cái đài ra mép tủ thì cái hòm gỗ trượt.
Thằng Đông ngã ngửa xuống nền gạch, ôm cái đài trên bụng như ôm một con mèo. Đầu nó đập xuống đất đánh cốp. Nó nằm im, nhìn lên trần nhà, nghe tai mình kêu o o. Rồi nó nghe tiếng mẹ ở ngoài hè quát vọng vào:
– Cái gì đấy?
– Không có gì ạ! Con làm rơi cái ghế!
Nó ngồi dậy. Đầu đau, nhưng không chảy máu. Cái đài thì không được may như thế. Mặt hậu bằng gỗ ép đã nứt dọc, một góc bung ra khỏi con vít, lòi cả mạch bên trong. Ở chỗ góc bung ấy, giữa khung loa và thành vỏ, một mẩu giấy cứng màu nâu thò ra.
Thằng Đông rút mẩu giấy ra.
Là một tấm ảnh, nhỏ bằng bao diêm, mép răng cưa. Một người đàn bà trẻ ngồi trên cái ghế mây, mặc áo cánh sáng màu, tóc vấn khăn, bế trên lòng một thằng bé chừng ba tuổi, đầu cạo trọc chỉ chừa một chỏm ở trán. Thằng bé mặt phụng phịu, như vừa bị dỗ nín. Người đàn bà không cười, nhưng mắt bà nhìn thẳng vào ống kính, như muốn nhớ cho thật kỹ người đứng chụp.
Lật mặt sau, có một dòng chữ viết bằng mực tím, nét chữ nghiêng, đã nhoè: "Hoạch, ba tuổi."
Thằng Đông ngồi bệt trên sàn, cầm tấm ảnh trong tay rất lâu.
Thằng bé đầu trọc ấy là bố nó. Vậy người đàn bà là bà nội nó. Bố nó bảo bà nội mất sớm, mất năm nào không nhớ. Bố nó không có tấm ảnh nào của bà nội, trên bàn thờ chỉ có ảnh ông nội và một bát hương. Thế mà tấm ảnh của bà nội lại nằm trong cái đài của khách.
Nó chưa kịp nghĩ xong thì nghe tiếng xe đạp phanh kít ngoài cửa.
Bố nó về sớm.
Thằng Đông nhét tấm ảnh vào túi quần, cuống cuồng ấn cái góc mặt hậu vào. Không ấn được. Nó định bê cái đài giấu xuống gầm quầy, nhưng chưa kịp đứng dậy thì bố nó đã đứng ở cửa.
Hoạch nhìn cái ghế đổ, cái hòm gỗ lật nghiêng, ốc vít vãi khắp nền nhà, thằng con trai ngồi bệt ôm cái đài vỏ gỗ.
Anh không nói gì. Anh bước tới, giằng cái đài khỏi tay thằng Đông, lật mặt hậu ra xem vết nứt.
– Con định sửa cho bố – thằng Đông nói, giọng run. – Con tìm bệnh cho bố.
Cái tát đến nhanh tới mức thằng Đông không kịp thấy tay bố giơ lên. Chỉ thấy một bên má nóng ran, tai ù đi lần thứ hai trong ngày. Đó là lần đầu tiên bố nó đánh nó. Mười năm, chưa một lần.
Thêu chạy vào, thấy con trai ôm má, thấy chồng ôm cái đài, đứng thở dồn như vừa chạy một quãng dài.
– Anh làm cái gì thế? Anh đánh con vì một cái đài à?
Hoạch không trả lời vợ. Anh nhìn thằng Đông, mặt tái, môi run, như chính anh vừa bị tát.
– Bố bảo bao nhiêu lần rồi. Cái này không ai được đụng vào.
– Bố quý cái đài hơn con – thằng Đông gào lên, nước mắt chảy ròng ròng. – Cái đài của khách mà bố quý hơn con!
Nó chạy ra khỏi tiệm, chạy dọc phố Hàng Kênh, chạy tới tận bờ sông Tam Bạc mới dừng. Nó ngồi trên bậc đá, nhìn những con thuyền chở rau từ mạn ngoại thành lên đậu san sát, ngửi mùi bùn và mùi rau cải úa. Nó móc tấm ảnh trong túi quần ra, nhìn người đàn bà ngồi trên ghế mây.
Bà ấy có một nốt ruồi nhỏ ở cánh mũi bên phải.
Tối ấy nó về muộn. Mẹ nó để phần cơm trong lồng bàn, thêm một quả trứng rán mà bình thường phải chia đôi với em. Bố nó ngồi ở quầy, quay lưng ra phía cầu thang, cúi xuống cái đài vỏ gỗ. Mặt hậu đã được dán lại bằng keo da trâu, kẹp chặt bằng hai cái kẹp sắt. Bố nó không quay lại khi nó đi qua. Nhưng lúc nó đã lên được nửa cầu thang, bố nó nói, giọng thấp, không quay đầu:
– Đầu có đau không?
– Không ạ.
– Lần sau ngã thì gọi bố.
Thằng Đông đứng trên bậc thang, đợi bố nói thêm một câu gì nữa. Nhưng bố nó đã cúi xuống cái kẹp sắt, vặn thêm nửa vòng.
Nó lên gác, nằm úp mặt xuống gối. Tấm ảnh nó đã giấu vào giữa hai trang bìa quyển vở Tập làm văn, chỗ mẹ nó không bao giờ giở tới. Nó không định trả lại cho bố. Nó cũng không định khai với ai. Nó chỉ thấy rằng trong cái nhà này, bố nó có một cái gì đó giấu đi, thì nó cũng có quyền có một cái gì đó giấu đi.
Đêm ấy, khi cả nhà đã ngủ, Thêu thức dậy uống nước, thấy đèn dưới nhà vẫn sáng. Chị nhón chân xuống mấy bậc, nhìn qua song cầu thang.
Hoạch ngồi trước cái đài, mặt hậu đã tháo ra. Anh không sửa gì cả. Anh chỉ thò hai ngón tay vào giữa khung loa và thành vỏ, sờ đi sờ lại một chỗ trống, như người mù tìm một đồng xu đánh rơi, và không tìm thấy.
— Hết chương 2 —

🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt