AI Truyện
Cái chuông đồng ở nhà bảo sanh Sáu Nhạn

🏠 Gia đình & vả mặt

Đêm đầu tiên cái chuông kêu

Cái chuông đồng ở nhà bảo sanh Sáu Nhạn · Chương 1/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 1: Đêm đầu tiên cái chuông kêu

Đêm đầu tiên cái chuông kêu, tui té đầu xuống lu nước mưa, và cả xóm Vàm Cái Sâu kể chuyện đó suốt bốn mươi bảy năm, kể tới bây giờ còn chưa chịu thôi.

Tui tên Lương Văn Đậm, thứ tư trong nhà, người ta kêu Tư Đậm. Năm nay tui bảy mươi bốn. Vợ tui là Huỳnh Thị Nhạn, thứ sáu, người ta kêu Sáu Nhạn, mà hồi bả còn sống thì cả xóm, cả chợ, cả hai bên sông kêu bả là cô Sáu. Cô Sáu bà mụ. Cô Sáu đỡ đẻ. Ai sanh ra ở cái khúc sông này từ năm bảy mươi bảy tới năm hai ngàn mười, mười đứa thì hết bảy đứa lọt lòng ra là nằm trên tay vợ tui trước khi nằm trên tay má nó.

Còn tui thì được biết tới vì một chuyện thôi. Thấy máu là xỉu.

Để tui kể từ đầu.

Tháng Mười năm bảy mươi sáu, tui cưới Nhạn. Bả đi học nghề hộ sinh ở Cần Thơ ba năm, theo một bà đỡ có bằng cấp đàng hoàng, về xóm thì cả xóm mừng như được mùa. Hồi đó ở Vàm Cái Sâu, đàn bà đẻ thì kêu bà mụ vườn. Bà mụ vườn gần nhứt là bà Năm Dứt, ở bên kia sông, cắt rốn bằng miếng lồ ô vót, đắp rốn bằng tro bếp. Có bằng cấp như vợ tui thì cả khúc sông này chưa có ai.

Tui làm thợ máy ghe. Sửa máy đuôi tôm, máy ghe chài, máy bơm nước ruộng, cái gì có dầu có nhớt là tui sửa. Tay tui lúc nào cũng đen thui. Bả thì tay lúc nào cũng trắng, cũng thơm mùi xà bông với mùi cồn. Hai cái tay đó nắm nhau đi làm đám cưới, ông Ba Lù ở đầu xóm nói giống như con cá trê đi cưới con cá bống trắng. Cả xóm cười. Tui cũng cười.

Cưới xong, bả nói với tui:

– Em muốn mở nhà bảo sanh ở đây. Ngay trong nhà mình.

Nhà tui là căn nhà gỗ ba gian, mái lá, sau lưng là vườn chuối, trước mặt là con rạch Cái Sâu đổ ra sông Hậu. Gian bên trái tui để đồ nghề sửa máy. Gian giữa thờ ông bà. Gian bên phải trống. Bả chỉ gian bên phải.

– Ở đây. Kê một cái giường sanh, một cái bàn để đồ, một cái tủ thuốc. Nước thì có lu. Đèn thì có măng-xông.

Tui gật đầu. Tui không hỏi gì. Tui thương bả. Mà tui cũng biết, cái khúc sông này cần một người như bả hơn là cần một thằng thợ máy như tui.

Nhưng có một chuyện tui làm mà bả không có biểu.

Ở bến đầu xóm có một chiếc ghe chài bỏ mục đã mấy năm, của ông Ba Lù. Trên mũi ghe còn treo một cái chuông đồng, cỡ cái tô, xanh rỉ, hồi xưa dùng để báo hiệu khi ghe vô vàm trong sương. Tui mua lại cái chuông đó của ông Ba Lù hết hai chục đồng, chà cát cho hết rỉ, đánh dầu cho bóng. Rồi tui dựng một cái trụ cây sao trước cổng, treo cái chuông lên. Tui cột một sợi dây dù vô quả lắc, kéo sợi dây dài ra tới tận đầu cầu ván, chỗ xuồng ghe cặp vô.

– Anh làm cái gì vậy? – bả hỏi.

– Treo chuông.

– Chi vậy?

– Ban đêm người ta tới, cột xuồng xong là giật dây. Khỏi phải lội lên gõ cửa. Khỏi phải kêu.

– Kêu thì có sao đâu.

– Kêu thì khan cổ. – Tui nói. – Với lại treo chuông cho nó oai.

Bả nhìn tui một hồi lâu, kiểu nhìn của người biết thằng chồng mình đang nói không hết. Mà bả không hỏi nữa. Bốn mươi lăm năm làm vợ chồng, bả có cái tật đó, biết mà không hỏi. Tui nhờ cái tật đó mà sống yên được nhiều năm.

Cả xóm đi ngang, thấy cái chuông, cười rần. Thằng Tư Đậm treo chuông như nhà thờ. Thằng Tư Đậm chưa có con mà đã làm như nhà bảo sanh lớn trên tỉnh. Tui kệ.

Ba tuần đầu, không ai tới.

Không phải xóm này không có ai đẻ. Có chớ. Trong ba tuần đó, tui đếm được ba người, hai người bên này sông, một người xóm trên. Cả ba đều kêu xuồng chở qua bên kia sông, kêu bà Năm Dứt. Người ta tin bà Năm. Bà Năm đỡ cho má người ta, đỡ cho bà ngoại người ta. Còn con nhỏ Sáu Nhạn, mới hăm lăm tuổi, đi học trên tỉnh về, tay trắng bóc, nói chuyện toàn chữ lạ, ai mà dám giao cái bụng bầu.

Bả không nói gì. Sáng nào bả cũng lau cái giường sanh, lau tủ thuốc, nấu đồ nghề trong nồi nước sôi, xếp lại ngay ngắn. Chiều nào bả cũng ngồi ở hiên, ngó ra con rạch. Có bữa tui đi sửa máy về, thấy bả ngồi đó, tay cầm cuốn sách thuốc mà mắt thì ngó xuồng ghe chạy ngang.

Còn tui, sáng nào tui cũng ra cổng, giật thử sợi dây một cái. Bong. Coi coi cái chuông còn kêu không. Coi coi sợi dây có bị chuột cắn không. Rồi tui đi làm.

Ông Ba Lù thấy, cười tui:

– Mày giật chuông kêu đẻ cho ai vậy Tư? Cho mày hả?

Ba tuần sau ngày treo chuông thì nó kêu lần đầu.

Đêm đó trời mưa dầm, mưa tháng Mười, không lớn mà dai, nghe trên mái lá rì rì như ai rắc gạo. Hai giờ sáng, tui đang ngủ thì nghe cái tiếng đó. Bong. Bong. Bong. Rồi một loạt dồn dập, bong bong bong bong, như người ta giật dây mà giật không được đều tay.

Tui bật dậy trước bả. Tui chạy ra cổng, tay cầm cây đèn pin. Dưới cầu ván, trên chiếc xuồng ba lá, anh Bảy Lộ ở xóm trên đang ôm sợi dây chuông, mặt trắng như tờ giấy. Dưới lòng xuồng, vợ ảnh là chị Bảy Tươi nằm co, ôm bụng, rên từng hồi.

– Anh Tư ơi! Cô Sáu đâu? Vợ tui bể nước ối rồi!

Bả ra tới sau lưng tui, tóc còn bới dở, áo bà ba trắng cài lộn nút. Bả bước xuống cầu ván, ngồi xổm bên mép xuồng, đặt tay lên bụng chị Bảy, sờ mấy chỗ, rồi đứng dậy.

– Khiêng vô. Anh Đậm, đốt đèn măng-xông. Nấu nước. Nồi lớn.

Tui với anh Bảy Lộ khiêng chị Bảy vô gian bên phải, đặt lên cái giường sanh mới đóng, gỗ còn thơm mùi dầu chai. Tui đốt cây đèn măng-xông, bơm cho nó sáng trắng cả gian nhà. Tui nhóm bếp, bắc nồi nước. Tui làm đâu ra đó. Tui đã tập trong đầu cả trăm lần.

Rồi bả kêu tui vô cầm đèn.

– Cầm cao lên. Soi xuống đây.

Tui đứng ở đầu giường, giơ cây đèn lên cao. Ánh sáng trắng rọi xuống. Tui nhìn xuống.

Tui chỉ nhớ tới chỗ đó.

Lúc tui tỉnh dậy, tui đang ngồi trong cái lu nước mưa ở hiên sau, nước ngập tới ngực, cái đầu ướt nhẹp, anh Bảy Lộ đứng bên cạnh cầm cây đèn măng-xông đã tắt ngóm. Ảnh kể lại là tui đứng cầm đèn được chừng mười giây, rồi tui buông đèn, đi thẳng một mạch ra hiên sau như người mộng du, tới cái lu thì chúi đầu xuống. Ảnh chạy theo chụp được cây đèn trước khi nó rớt, rồi mới lôi được tui ra khỏi lu. Lôi không nổi, ảnh để tui ngồi luôn trong đó.

– Anh Tư bị cái gì vậy? – ảnh hỏi.

– Tui… không biết. – Tui nói, răng đánh bò cạp. – Chắc tui xỉu.

– Xỉu mà đi được ra tới đây hả?

– Thì xỉu kiểu đi.

Trong nhà, có tiếng con nít khóc ré lên. Anh Bảy Lộ quăng cây đèn cho tui, chạy vô. Tui ngồi trong lu thêm một hồi lâu, nghe tiếng con nít khóc, tiếng chị Bảy cười mà khóc, tiếng vợ tui nói gì đó nhỏ nhẹ, đều đều, như người ta nói với cây lúa.

Đứa nhỏ là con trai, hơn ba ký. Nhà anh Bảy Lộ đã có chín đứa, đứa này là đứa thứ mười. Sáng ra, ảnh đứng ở cổng nhà tui, bồng thằng nhỏ, cười tới mang tai.

– Tui đặt tên nó là thằng Mười Xỉu. Cho nhớ cái đêm ông Tư té lu.

– Anh đừng có giỡn – tui nói.

– Giỡn gì. Làm khai sanh thì ghi Lương… à quên, ghi Đỗ Văn Mười. Còn ở nhà thì kêu Mười Xỉu.

Cái tên đó dính vô thằng nhỏ cả đời. Bây giờ nó bốn mươi bảy tuổi, có vợ, có con gái lớn, làm chủ ghe chở lúa, mà ra chợ người ta vẫn kêu nó là Mười Xỉu. Mỗi lần gặp tui nó còn chọc: con là đứa đầu tiên cô Sáu đỡ, mà cũng là đứa đầu tiên ông Tư xỉu.

Sau đêm đó, cả xóm biết chuyện. Ai đi ngang nhà tui cũng ngó cái lu nước mưa mà cười. Mấy bà bán cá ở chợ Vàm kêu tui là "ông Tư lu". Ông Ba Lù còn đề nghị tui treo thêm cái chuông thứ hai ở cái lu, để lần sau có xỉu thì người ta biết đường đi kiếm.

Tui cười theo. Tui để cho người ta cười. Tui thấy như vậy là tốt.

Bả thì không cười. Đêm đó, sau khi chị Bảy về rồi, bả lau giường sanh, rửa đồ nghề, nấu đồ khử trùng, xong xuôi hết mới vô buồng. Tui nằm quay mặt vô vách, giả bộ ngủ. Bả nằm xuống sau lưng tui, rất lâu không nói gì.

– Anh Đậm.

– Hử.

– Hồi nãy anh không xỉu.

Tui nằm im.

– Người xỉu thì mặt tái, mắt trợn, té tại chỗ. Anh thì không. Anh buông đèn, anh đi. Mắt anh mở. Em thấy.

– Thì… xỉu kiểu khác.

Bả im một hồi. Rồi bả nói, giọng nhỏ như mấy hạt mưa còn rớt trên mái lá:

– Anh không muốn kể thì thôi. Em không hỏi.

Tui không kể. Tui nằm đó nghe mưa tới sáng, nghe tiếng sợi dây dù ngoài cổng đập lách cách vô trụ cây sao mỗi lần có gió, và tui nhớ một cái cửa gỗ. Cái cửa gỗ bằng ván me tây, cài then bên trong, mà một thằng nhỏ mười hai tuổi đập hoài, đập hoài, đập tới chảy máu tay, mà không ai mở.

Tui không kể chuyện cái cửa đó với ai. Không kể với bả. Không kể với các con. Không kể với ai, cho tới tận cái đêm nước lớn năm Thìn, hai mươi ba năm sau.

Còn bây giờ, đêm đó, bả xoay người lại, đặt tay lên lưng tui.

– Anh Đậm. Em có bầu rồi.

Tui quay lại. Trong bóng tối tui không thấy mặt bả, mà tui nghe ra là bả đang cười.

– Thiệt hả em?

– Thiệt. Gần hai tháng. – Bả ngưng một chút, rồi nói tiếp, cái giọng nửa giỡn nửa thiệt mà tui sợ nhứt. – Tới chừng em sanh, anh phải đứng trong phòng. Xỉu kiểu gì thì xỉu, anh cũng phải đứng đó coi.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cái chuông đồng ở nhà bảo sanh Sáu Nhạn

  1. 1Đêm đầu tiên cái chuông kêu9 phút đọc
  2. 2Chèo xuồng qua sông giữa trời giông9 phút đọc
  3. 3Ca sanh đôi mùa nước nổi9 phút đọc
  4. 4Hai cây kéo9 phút đọc
  5. 5Thằng rể té xuống rạch9 phút đọc
  6. 6Nước lớn năm Thìn9 phút đọc
  7. 7Tiệm tóc bên trái, phòng sanh bên phải9 phút đọc
  8. 8Ca đỡ cuối cùng9 phút đọc
  9. 9Tiếng chuông không ai giật9 phút đọc
  10. 10Sợi dây màu đỏ9 phút đọc

Về truyện này

Cái chuông đồng ở nhà bảo sanh Sáu Nhạn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →