Chương 1: Sáng Chủ nhật không có bu
Bu tôi biến mất vào cái đêm trước ngày ký bán nhà, và người đầu tiên nhìn thấy chiếc giường trống không phải là tôi.
Là Nụ, vợ thằng Toại. Năm rưỡi sáng Chủ nhật, Nụ xuống bếp bắc nồi nước dùng bánh đa cua cho cả nhà, đi ngang buồng bu thì thấy cửa khép hờ. Bu tôi chưa bao giờ ngủ mà để hở cửa. Bà bảo gió sông Tam Bạc lùa vào buồng là sáng ra đau gáy. Nụ đẩy cửa, gọi một tiếng mẹ ơi, rồi chạy sang đập cửa buồng tôi.
– Chị Đạm ơi, mẹ đâu rồi chị?
Tôi ngồi dậy. Tôi nhớ rất rõ mình ngồi dậy chứ không phải bật dậy, vì cái giường gỗ cũ của tôi kêu cót két, và Nụ đứng ngoài cửa nghe thấy. Về sau Nụ kể với công an là chị Đạm ra mở cửa nhanh lắm, mặt tỉnh như chưa ngủ. Nụ không nói sai.
Buồng bu ở tầng một, phía sau, sát bếp, cách buồng tôi một bức vách gỗ dán mỏng. Năm tháng trước, lúc tôi ôm hai cái vali về ở với bu sau khi ký giấy ly hôn, chính tôi xin ngủ buồng này. Người ta bảo con gái lấy chồng rồi về ở với mẹ đẻ là con gái hỏng. Tôi không cãi. Tôi chỉ nói với mọi người là bu dạo này hay quên, có người ngủ sát vách cho yên tâm.
Giường bu trải chiếu cói, chăn gấp vuông như bộ đội, gối kê ngay ngắn. Cái điện thoại bàn phím to của bu nằm cạnh gối. Hộp thuốc huyết áp nằm trên đầu giường, chỗ bu vẫn để, cạnh cái cốc sứ in hình hoa sen đã sứt quai. Đôi dép nhựa màu nâu của bu nằm dưới gầm giường, mũi quay vào trong.
Và trên gối có một chiếc khăn tay vải trắng, viền chỉ xanh, thắt ba nút.
Bu tôi có cái thói quen ấy từ hồi tôi còn bé. Việc gì cần nhớ, bu thắt một nút vào góc khăn tay. Đi chợ Sắt mua mấy thứ thì thắt mấy nút. Xong việc nào, bu gỡ nút ấy ra. Hồi tôi học lớp ba, có lần bu quên đón tôi, tôi ngồi khóc ở cổng trường tới bảy giờ tối. Hôm sau, chiếc khăn của bu có thêm một nút chẳng bao giờ gỡ, bu bảo để nhớ cái tội của bu. Cái nút ấy theo bu được hai năm, tới khi chiếc khăn rách.
Tôi cầm chiếc khăn lên, gấp lại, bỏ vào túi áo. Nụ đứng sau lưng tôi, chắc là có thấy. Lúc ấy Nụ không hỏi gì.
– Mẹ ra sông tập thể dục chăng chị? – Nụ hỏi.
– Bu không đi dép thì đi đâu, – tôi nói.
Đó là câu đầu tiên tôi nói sáng hôm ấy. Tôi ghi lại ở đây để không ai bảo tôi kể thiếu.
Thằng Toại từ tầng hai chạy xuống, trên người còn mặc cái áo ba lỗ, quần đùi kẻ ô. Nó là em trai tôi, ba mươi lăm tuổi, có hai chiếc xe đầu kéo chạy container ra cảng Đình Vũ, một chiếc đã nằm bãi ba tháng nay vì không có tiền thay lốp. Nó đứng giữa buồng bu, nhìn cái giường như nhìn một chiếc xe bị người ta lấy mất bánh.
– Bu đâu? Chị ngủ sát vách mà không biết à?
– Không, – tôi nói. – Chị không nghe thấy gì.
Lam và Khải ngủ trên tầng ba cũng xuống. Lam là em út, ba mươi mốt tuổi, làm ở một ngân hàng ngoài Hà Nội, đang có bầu tháng thứ năm. Nó vịn tay vịn cầu thang đi từng bậc, mặt trắng bệch. Khải, chồng Lam, xuống sau, đã mặc sẵn quần âu, áo sơ mi trắng là phẳng, tóc chải gọn. Hôm nay chín giờ, văn phòng công chứng sẽ cử người tới tận nhà để bu ký giấy bán nhà, vì bu già rồi, đi lại khó. Người mua cũng tới. Khải là người lo hết. Anh ấy làm môi giới nhà đất mười năm, quen việc.
– Mẹ đâu em? – Khải hỏi Lam, rồi quay sang tôi. – Chị Đạm, mẹ đi đâu sớm thế?
Khải gọi bu là mẹ. Nụ cũng gọi là mẹ. Ba chị em chúng tôi gọi là bu, như cả cái ngõ này gọi mẹ mình là bu, từ đời bà tôi. Hồi Khải mới về làm rể, anh ấy cũng thử gọi bu, gọi được hai lần thì ngượng, chuyển về mẹ. Bu tôi bảo thôi, gọi gì cũng là con.
Chúng tôi chia nhau đi tìm. Toại chạy ra đầu ngõ, chỗ quán nước bà Tần. Nụ chạy sang nhà ông Cửu đối diện, ông thợ máy tàu về hưu, sáng nào cũng dậy từ bốn giờ đánh răng ngoài cửa. Khải lấy xe máy của Toại chạy dọc bờ sông Tam Bạc về phía chợ hoa. Lam đứng ở cửa, hai tay ôm bụng. Tôi bảo Lam vào ngồi, nó không nghe.
Tôi đi bộ ra bờ sông.
Tháng Mười ở Hải Phòng, sáng sớm đã có gió mùa về, gió từ phía cửa biển thổi ngược lên, mặt sông Tam Bạc xám như nước rửa bát. Mấy chiếc thuyền gỗ chở hoa từ các làng ven thành phố vào đã cập bến, người ta đang bê từng bó cúc vàng, cúc trắng lên bờ. Mùi bùn, mùi dầu máy và mùi hoa trộn vào nhau. Một bà bán xôi đầu dốc gọi với theo tôi:
– Cô Đạm đi đâu sớm thế? Bà Tỉnh hôm nay không ra mua xôi à?
Bu tôi tên là Tô Thị Tỉnh. Bốn mươi năm bán hàng khô ở chợ Sắt, ai trong khu này cũng biết. Mỗi sáng Chủ nhật bu ra đầu dốc mua một gói xôi lạc, ăn một nửa, để một nửa cho tôi.
– Bà có thấy bu cháu đi qua đây không ạ?
– Không thấy. Sao, bà lại quên đường à?
Tôi không trả lời. Tôi đứng ở mép kè, nhìn xuống nước. Cái dòng sông này hẹp, nước chảy chậm, rác nổi lềnh bềnh sát bờ. Tôi đứng đấy chừng năm phút. Về sau Đại úy Sơn hỏi tôi đứng ở bờ sông làm gì lâu thế, tôi nói tôi sợ. Câu ấy cũng đúng.
Bảy giờ, cả nhà về lại phòng khách. Không ai thấy bu. Ông Cửu bảo bốn giờ ông ra đánh răng thì ngõ còn tối, chỉ có con chó nhà bên sủa vài tiếng rồi thôi. Quán bà Tần chưa mở. Khải chạy ra tận chợ hoa, hỏi mấy người bê hoa, không ai thấy bà cụ nào đi một mình.
Toại ngồi trên ghế gỗ, hai tay vò tóc.
– Bu lẫn rồi. Em nói từ tháng trước rồi mà không ai nghe. Bu lẫn, đêm mở cửa đi lang thang, có khi ngã xuống sông rồi cũng nên.
– Anh nói gở thế, – Lam khóc.
– Gở cái gì! Ba tuần trước bu đi chợ về, đứng ở đầu ngõ hỏi người ta nhà bà Tỉnh ở đâu. Chị Đạm biết thừa còn gì.
Tôi biết. Hôm ấy chính tôi ra đón bu. Bu đứng dưới gốc bàng, tay cầm túi lạc rang, nhìn tôi rất lâu rồi bảo: Đạm à, bu đứng đây chờ ai ấy nhỉ. Tối hôm đó bu thắt một nút khăn, tôi hỏi để nhớ gì, bu bảo để nhớ là mình đang bắt đầu quên.
– Báo công an đi, – Khải nói. Giọng anh ấy khàn. – Báo ngay, người già mất tích không phải đợi đủ hai mươi tư tiếng đâu. Em có đứa bạn làm bên phường.
Toại gọi. Tôi nghe nó đọc địa chỉ, đọc tên bu, đọc năm sinh, đọc cả cái bệnh huyết áp. Giọng nó run.
Khải ra sân gọi điện cho văn phòng công chứng, hoãn buổi ký. Rồi anh ấy gọi thêm một cuộc nữa, đi tít ra tận cổng, quay lưng vào nhà, nói rất nhỏ. Lúc anh ấy quay vào, mặt xám đi như người say xe. Lam hỏi anh gọi ai, anh bảo gọi cho người mua, báo người ta đừng tới. Lam gật đầu. Tôi để ý cái điện thoại trong tay Khải vẫn sáng màn hình rất lâu sau đó, như thể có ai đang gọi lại mà anh ấy không nghe.
Tám giờ kém mười lăm, công an tới.
Hai người. Một anh chừng bốn mươi, người gầy, da ngăm, tóc cắt ngắn sát, mặc thường phục áo khoác gió màu xanh rêu. Một cô trẻ hơn, mặc cảnh phục, cầm cặp hồ sơ. Anh kia chìa giấy tờ ra trước khi bước qua bậc cửa.
– Tôi là Nông Thế Sơn, đại úy, cảnh sát hình sự công an thành phố. Đây là trung úy Hà Thị Mến. Bên phường báo người già mất tích, có bệnh, nhà sát sông, nên chúng tôi xuống luôn.
Anh ấy nói chậm, mỗi chữ một, giọng có cái âm nằng nặng của người miền núi phía Bắc. Về sau tôi mới biết anh quê Trùng Khánh, Cao Bằng, người Tày, xuống Hải Phòng học trường cảnh sát rồi ở lại luôn. Anh ấy không ngồi ngay. Anh ấy đi một vòng tầng một, nhìn cửa chính, nhìn then cửa sau, nhìn khoá. Cửa sau nhà tôi mở ra một ngách nhỏ, ngách ấy dẫn ra bờ sông.
– Sáng nay ai mở then cửa sau?
Chúng tôi nhìn nhau.
– Lúc em xuống thì then mở rồi, – Nụ nói. – Em tưởng chị Đạm dậy sớm ra sân sau.
– Chị Đạm có ra sân sau không?
– Tôi dậy lúc Nụ gọi, – tôi nói.
Anh Sơn gật đầu, không ghi gì. Trung úy Mến thì ghi.
Anh ấy vào buồng bu. Anh ấy đứng ở cửa một lúc lâu, không bước vào ngay, chỉ nhìn. Rồi anh ấy đi vòng quanh giường, cúi xuống nhìn đôi dép dưới gầm, cầm cái điện thoại lên xem nhưng không bấm, đặt xuống đúng chỗ cũ. Anh ấy mở hộp thuốc huyết áp, rút vỉ thuốc ra, nhìn rồi để lại, không nói gì.
– Bà cụ có thói quen đi đâu một mình vào sáng sớm không?
– Không ạ, – Toại nói. – Bu em đi đâu cũng phải có người đi cùng. Dạo này bu hay quên.
– Quên nhiều chưa? Có đi khám chưa?
– Chưa ạ. Bu không chịu đi.
– Ai là người hay ở cạnh bà nhất?
Mọi người nhìn tôi. Anh Sơn cũng nhìn tôi.
– Chị ngủ phòng sát vách, tức là cách cái giường này chưa tới hai mét. Bà cụ mở cửa buồng, đi qua bếp, mở then cửa sau. Then cửa ấy tôi vừa thử, kéo ra kêu khá to. Chị có nghe thấy gì không?
– Tôi uống một viên thuốc ngủ từ mười một giờ, – tôi nói. – Từ hồi ly hôn tôi khó ngủ.
Đó là nguyên văn câu tôi đã nói với anh ấy. Tôi chép lại ở đây, không sửa một chữ.
Anh Sơn nhìn tôi thêm một lúc. Anh ấy có đôi mắt rất bình thường, không sắc, không dò xét, như mắt một ông giáo làng nhìn học trò đang đọc bài. Rồi anh ấy quay sang hỏi Khải chuyện bán nhà.
Khải kể gọn gàng như đọc hồ sơ. Căn nhà ba tầng trong ngõ, đất bốn mươi sáu mét vuông, sổ đỏ đứng tên bu từ sau khi bố tôi mất bốn năm trước, ba chị em đã làm giấy từ chối nhận phần thừa kế để bu đứng tên một mình cho gọn. Có người mua trả sáu tỷ một. Gia đình thống nhất bán, chia cho các con, bu sẽ lên Hà Nội ở với vợ chồng Lam, hoặc ở với Toại, tuỳ bu.
– Cả nhà thống nhất bán, – anh Sơn nhắc lại. – Bà cụ có đồng ý không?
Im lặng một lúc.
– Bu đồng ý rồi ạ, – Khải nói.
– Bu chưa nói gì cả, – tôi nói.
Hai câu ấy chạm vào nhau giữa phòng khách. Toại đứng phắt dậy.
– Chị nói thế là sao? Tối qua bu bảo để bu ngủ một đêm rồi tính, tức là đồng ý chứ còn gì nữa. Chị không muốn bán thì chị nói thẳng ra, chị ở đây năm tháng, chị coi cái nhà này là của chị rồi à?
– Toại, – Nụ kéo áo chồng.
– Kệ anh!
Anh Sơn không can. Anh ấy để Toại nói hết, để Lam khóc, để Nụ kéo áo chồng. Trung úy Mến cúi đầu ghi. Khi phòng khách im lại, anh Sơn mới hỏi, giọng vẫn chậm như cũ:
– Tối qua, ai là người cuối cùng nói chuyện với bà cụ?
Không ai trả lời ngay. Tôi nhìn Toại. Toại nhìn xuống chân mình, đôi bàn chân to bè, móng cái đen một vệt vì tuần trước bị kẹp vào móc container.
Lần này tôi không nói câu nào. Tôi chỉ nhìn Toại.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe