Chương 7: Mùa nước năm Mậu Ngọ
Bà Tư Sen ngồi xuống cái rễ bần nhô lên khỏi mặt đất, ngay cạnh đầu mộ. Huờn đứng cách bà mấy bước, không dám ngồi.
– Ngồi đi, – bà nói. – Đứng đó tao mỏi cổ.
Huờn ngồi xuống bờ đất. Bà Tư không nhìn anh. Bà nhìn mặt mương, nơi con nước ròng buổi sáng đang rút, chảy chầm chậm về phía sông.
– Năm đó tao hai mươi sáu tuổi, – bà nói.
Huờn không hỏi gì. Mười hai năm làm nghề, anh học được một điều: người đang đau mà chịu mở miệng thì đừng hỏi, chỉ ngồi nghe.
Mùa nước năm Mậu Ngọ, bà kể, nước lên sớm và lên dữ, dữ tới mức người già trên đồng Tháp Mười cũng nói cả đời chưa thấy. Nước tràn qua bờ bao, ngập ruộng, ngập vườn, ngập tới mái nhà. Người ta dỡ nhà dựng chòi trên mấy gò đất cao. Ông Tư với bà chạy đồng vịt hơn hai ngàn con, sống trên một chiếc ghe tam bản có cái mui lá, nước tới đâu thì lùa vịt tới đó. Thằng Hai Bồng ba tuổi, lanh lợi, nói nhiều, ngày nào cũng đòi ngồi trước mũi ghe coi ba lùa vịt.
– Ba nó khắc cho nó một con vịt gỗ, – bà nói. – Gỗ mít, ổng đẽo bằng con dao yếm cả tuần, sơn cái mỏ đỏ. Nó đi đâu cũng cầm, ngủ cũng cầm. Nó nói đó là con vịt đầu đàn, con vịt đầu đàn thì không bao giờ lạc.
Chiều hôm đó trời mưa lâm râm. Ông Tư đi lùa vịt vô một cái đìa cách chừng mấy trăm thước. Bà ở sau lái nấu nồi cá linh kho, mùa nước cá linh nhiều tới mức người ta xúc bằng rổ. Thằng Hai ngồi trước mũi ghe, chân thòng xuống nước, tay cầm con vịt gỗ thả xuống cho nó bơi rồi kéo lên bằng sợi chỉ. Bà dặn nó ngồi yên, đừng nghiêng người ra. Nó dạ.
– Tao nghe một tiếng tõm, – bà nói. Giọng bà vẫn đều đều, như kể chuyện của người khác. – Tao tưởng con vịt nào sổng chuồng nhảy xuống nước. Ghe vịt thì ngày nào chẳng nghe tiếng tõm. Tao không quay lên. Tao còn đang đảo nồi cá. Tao đảo thêm mấy cái nữa cho nó thấm. Tới lúc tao bưng nồi cá lên mũi ghe kêu nó ăn cơm, thì mũi ghe trống trơn.
Bà ngừng lại. Một chiếc lá bần rụng xuống mặt mương, xoay mấy vòng rồi trôi đi.
– Có mấy cái đảo nồi cá thôi, – bà nói. – Mấy cái đảo nồi cá.
Hai vợ chồng lặn ngụp trong nước đục ngầu suốt đêm. Người trên mấy chiếc ghe gần đó chèo tới, thắp đuốc, lặn tìm cùng. Sáng ra người ta tìm thấy nó mắc trong một bụi điên điển ngập nước, cách đó một khúc. Nó vẫn nắm con vịt gỗ trong tay. Sợi chỉ còn quấn quanh ngón tay nó.
– Không có ai lo cho nó hết, – bà nói. – Thời đó, giữa mùa nước, giữa đồng không mông quạnh. Ba nó với tao tắm cho nó bằng nước sông. Tao lấy cái áo của tao quấn cho nó. Ba nó chèo ghe suốt hai ngày đêm chở nó về đây, tao ngồi ôm nó trong lòng. Tới nơi người nó đã… – Bà dừng lại, không nói tiếp chữ đó. – Ba nó đào cái huyệt ở đây, sát gốc bần. Tao lấy cây đinh viết tên nó lên miếng xi măng. Viết xong tao đi vô nhà, đóng cửa, và tao không ra đây lần nào nữa.
Huờn nhìn tấm xi măng mẻ góc. Con Hai của ba má.
– Tao cấm ổng nhắc tên nó. – Bà nói. – Cấm con cái biết. Cấm giỗ. Người ta nói con nít chết sớm mà cứ nhắc hoài thì nó không đi được, nó cứ quanh quẩn ở nhà. Tao nói vậy với ổng. Nhưng không phải vậy đâu. Tao cấm là tại tao không chịu nổi. Nhắc tới nó là tao nghe lại cái tiếng tõm. Bốn mươi tám năm, đêm nào tao cũng đóng cửa sổ, vì tiếng nước dưới mương nghe giống y cái tiếng đó.
Bà quay lại nhìn Huờn lần đầu tiên.
– Năm sau tao đẻ thằng Thành. Ổng muốn kêu nó là thằng Hai. Tao giận. Tao nói ổng lấy tên con tao đã chết đặt cho đứa còn sống, vậy là ổng muốn quên thằng Bồng. Ổng nói không phải. Ổng nói nhà mình phải có thằng Hai, không có thì thằng Bồng không có chỗ về. Tao không hiểu. Tao cãi không lại ổng, thôi thì kêu thằng Thành là thằng Hai cho tới giờ. Mà mỗi lần kêu, tao nhớ thằng kia.
Bà nhìn xuống hai bàn tay mình.
– Rồi con Út lấy mầy.
Huờn ngồi im.
– Tao không ghét mầy, – bà nói. – Tao ghét cái chết. Cả đời tao chạy trốn nó. Rồi con gái út tao dẫn về một thằng ngày nào cũng ở với người chết, tắm cho người chết, thay đồ cho người chết. Tao nhìn hai bàn tay mầy, tao thấy cái chết nó theo về nhà tao. Tao để chén muối là để đuổi nó, không phải đuổi mầy. Mà đuổi nó cũng là đuổi mầy, thôi thì tao để.
Huờn không nói được gì. Mười năm anh bước qua cái chén muối ấy. Anh đã nghĩ ra cả trăm cách giải thích cho nó. Anh chưa bao giờ nghĩ ra cách này.
– Mầy nói đi, – bà nói. – Ổng lên chỗ mầy làm, ổng nói gì?
Huờn kể. Anh kể lần đầu ông ngồi ở ghế đá dưới gốc bàng với cuốn sổ khám bệnh bìa xanh. Anh kể bốn mươi phút ông đứng ở cửa phòng, nhìn anh tắm rửa, khâu vết rách, mặc cái áo sơ mi caro cho ông xe ôm nghèo. Anh kể câu ông hỏi: con làm vậy với ai cũng vậy hả, người nghèo cũng vậy hả.
– Lần thứ tư ba lên, – Huờn nói, – ba nói với con một câu, con nhớ hoài. Ba nói: hồi thằng Hai, không ai làm cho nó như con làm cho ông xe ôm đó. Ba với má mầy tắm cho nó bằng nước sông, quấn cho nó bằng cái áo cũ. Ba không trách ai hết, thời đó vậy. Nhưng ba muốn tới lượt ba thì có người làm cho đàng hoàng. Rồi ba được nằm kế bên nó, coi như ba làm bù cho nó luôn.
Bà Tư Sen nhắm mắt lại.
Huờn rút trong túi ra cái túi ni lông, mở khóa kéo, lấy con vịt gỗ ra. Anh đặt nó lên lòng bàn tay, đưa tới trước mặt bà.
Bà mở mắt ra. Bà nhìn con vịt rất lâu, như không tin. Cái mình vịt mòn nhẵn, sơn đen bong gần hết. Cái mỏ đỏ chói.
– Ổng nói với tao, – bà nói, giọng nghẹn lại, – ổng nói ổng thả nó trôi theo nước rồi. Hôm chôn thằng Bồng, ổng nói ổng thả con vịt xuống mương cho nó bơi theo thằng nhỏ.
– Ba giữ, má. Bốn mươi tám năm, ba bỏ trong túi áo. Cái mỏ thì năm nào gần Tết ba cũng sơn lại một lần. Ba đưa con giữ hồi tháng Sáu, dặn ba chết thì con bỏ vô hòm cho ba.
Bà Tư đưa hai tay ra, nhận con vịt gỗ bằng cả hai tay, như người ta nhận một thứ gì đó rất nặng. Bà áp nó vào ngực. Rồi bà khóc. Không phải cái khóc lặng lẽ của người đàn bà bảy mươi bốn tuổi ngồi bên hòm chồng suốt ba ngày. Bà khóc như một người đàn bà hai mươi sáu tuổi vừa bưng nồi cá linh kho lên mũi ghe và thấy mũi ghe trống trơn.
Huờn ngồi im bên cạnh bà. Anh không đụng vào bà. Anh chỉ ngồi đó, như anh vẫn ngồi bên những người nhà ở nhà tang lễ, đủ gần để họ biết có người ở đó, đủ xa để họ không phải giấu.
Lâu lắm, bà mới nín. Bà lấy vạt áo bà ba lau mặt, lau con vịt gỗ, rồi ngẩng lên nhìn cây bần.
– Cái mộ này, – bà nói, – mai mầy làm lại cho nó đàng hoàng giùm tao.
– Dạ.
Bà im một lúc, rồi hỏi, mắt vẫn nhìn mặt mương:
– Lần chót ổng lên, ổng nói gì?
Huờn nhớ lại. Lần thứ sáu, hồi tháng Chín, ông Tư lên Sài Gòn mà không vô cổng. Ông đứng ở bên kia đường, gọi điện kêu Huờn ra. Ông gầy đi nhiều, đi vài bước lại phải đứng thở. Hai người ngồi uống ly cà phê đá ở quán cóc dưới gốc me. Ông nói ít hơn mọi lần. Lúc đứng dậy, ông dặn một câu mà Huờn không hiểu, tới sáng nay ngồi ở bàn họp nghe anh Hai nói về cái hồ mới hiểu.
– Ba nói, – Huờn nói chậm, – con Sen nó sợ nước. Tụi nhỏ mà đòi đưa ba đi chỗ nào có ao có hồ thì con đừng cho. Ba nằm đó, bả không dám tới thăm.
Bà Tư Sen quay phắt lại nhìn anh. Bà nhìn rất lâu, như muốn tìm trên mặt thằng rể dấu vết của một lời bịa. Rồi bà cúi xuống nhìn con vịt gỗ trong tay.
– Ổng biết, – bà nói, gần như thì thào. – Bốn mươi tám năm, tao tưởng ổng không biết.
Bà chưa kịp nói thêm thì có tiếng chân người chạy dọc mé mương. Tiếng dép lẹp xẹp, tiếng thở hổn hển. Chị Hai Giang chạy tới, áo gió bay phần phật, mặt tái mét, hai tay cầm cái điện thoại của chồng.
– Má ơi! – Chị đứng lại, thở dốc. – Má từ con cũng được, con không chịu nổi nữa.
Bà Tư nhìn con dâu.
– Gì?
– Ảnh nợ công ty gần tám trăm triệu, má. – Chị Giang nói một hơi, như sợ ngừng lại thì không nói được nữa. – Tiền đất mộ ảnh mua trả góp để bán lại cho bà con, mua tám lô, giờ bán không được, trả không nổi. Ảnh đã ký giấy với công ty rồi, má. Sáng thứ Hai họ quay đám ba làm phim quảng cáo, đổi lại họ trừ cho ảnh một phần nợ. Còn hai lô của chị Ba, lô của dì Sáu, lô của anh Tám… ảnh lấy tiền đó đóng tiền góp cho mấy lô của ảnh hết rồi.
— Hết chương 7 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe