Chương 10: Chén cơm ngày cúng tuần
Chiều Chủ nhật, cái rạp đã dỡ được một nửa. Người ta khiêng ghế nhựa lên xe, cuộn tấm bạt xanh, tháo những vòng hoa cao hơn đầu người chất lên một chiếc xe ba gác. Mấy bà hàng xóm rửa chén bát ở sau hè, tiếng nước xối ào ào, tiếng chén chạm nhau lanh canh. Con Me chạy theo bọn con nít ra bờ mương coi người ta thả lục bình.
Bà Tư Sen ngồi trên bộ ván gõ ở gian giữa, chỗ ông Tư nằm ba ngày trước. Bà vỗ xuống mặt ván bên cạnh.
– Ngồi đây.
Huờn ngồi xuống. Mười năm làm rể, đây là lần đầu anh ngồi chung một bộ ván với má vợ.
Bà không hỏi chuyện đám. Bà hỏi chuyện nghề.
– Mầy làm nghề đó bao lâu rồi?
– Dạ, mười hai năm.
– Sao mầy làm?
Huờn nhìn ra cửa, nơi nắng chiều đang đổ dài trên cái sân đất đã quét sạch.
– Má con mất năm con hai mươi sáu tuổi, – anh nói. – Má con bán xôi ở chợ Bà Chiểu, đột quỵ ngay ở sạp. Nhà nghèo, con thuê một đội rẻ nhất. Tụi nó làm cho má con giống như đội ông Mười Tỏ làm cho ba hôm thứ Năm. Con đứng coi mà không biết phải làm sao. Tới lúc nhập quan, miệng má con vẫn há, như má con đang muốn rao một câu xôi nóng đây. Con đứng đó, con nghĩ, cả đời má con rao xôi, tới lúc đi rồi mà người ta để má con rao một câu không ra tiếng. – Anh ngừng lại. – Đám xong, con lên nhà tang lễ xin học việc.
Bà Tư nhìn anh rất lâu.
– Mầy có sợ không?
– Hồi đầu thì sợ. Giờ thì không, má. Người chết không làm gì mình hết. Người sống mới làm.
Bà gật đầu chậm, như người nghe một câu mà mình đã tự nói với mình nhiều năm mà chưa dám tin.
– Tao để chén muối mười năm, – bà nói. – Mầy giận tao không?
– Hồi đầu thì giận. – Huờn nói thật. – Sau thì không. Muối thì con xài hoài, má. Ở chỗ con làm, con lấy muối hột chà cho sạch mấy cái thau đồng. Con nghĩ chắc má cũng muốn chà cho sạch cái gì đó.
Bà Tư cười. Đó là lần đầu tiên Huờn thấy bà cười, từ cái ngày đám hỏi. Cái cười móm mém, ngắn, như người ta cười lén trong đám ma rồi vội nín.
Rồi bà nói, giọng bình thường như dặn chuyện đi chợ:
– Mai mốt má đi, má cũng để con làm.
Huờn không trả lời được. Anh cúi đầu.
– Mà con làm cho má cái tóc cho gọn, – bà nói thêm. – Má không chịu ai chải rẽ ngôi như ba con đâu. Má búi.
– Dạ.
Bảy ngày sau đó, cái nhà ba gian bên mé mương thay đổi nhiều hơn mười năm trước cộng lại.
Hai Thành lên công ty ở Cần Thơ sáng thứ Hai. Chị Giang kể lại, anh ta vô phòng anh Khải, đặt lên bàn tờ giấy chương trình đổi phim lấy tiền trừ nợ, nói em không làm, rồi xin nghỉ việc. Anh Khải nói em nghỉ thì tám lô em vẫn phải góp, công ty không gánh cho em. Hai Thành nói em biết. Chiều hôm đó anh ta đem cái xe hơi ra bãi xe cũ ở đầu thành phố. Tiền bán xe, anh ta đem trả cho chị Ba Mỹ trước, trả gần đủ hai trăm triệu. Chị Ba Mỹ cầm tiền, khóc, rồi đưa lại cho anh năm chục, nói anh giữ mà lo cho thằng Còi đi học.
Còn mấy lô của dì Sáu Nhơn, của anh Tám Rảnh, của ông bà con xa ở xóm trên, Huờn gọi cho mấy người quen trong ngành. Có hai lô người ta nhận sang tên lại cho một gia đình đang cần chỗ, giá bằng giá gốc, không lời không lỗ. Một lô thì dì Sáu Nhơn suy nghĩ ba ngày, rồi tuyên bố giữ lại cho mình, dì đã bảy mươi tuổi rồi, mua rồi thì mai mốt nằm, khỏi lo. Cả nhà cười, lần đầu tiên từ đám tang.
Năm lô còn lại của Hai Thành vẫn còn đó, vẫn còn nợ. Tư Hùng nói lần này đi tàu về, anh có để dành được một ít. Bà Tư nói vườn dừa năm nay trái nhiều. Chị Giang nói chị sẽ mở lại cái sạp tạp hoá trước nhà. Không ai nói chừng nào trả xong. Nhưng ngồi quanh cái bàn tròn ở gian giữa, lần đầu tiên, người ta tính chuyện đó với nhau bằng giọng của người một nhà.
Vợ chồng Huờn xin nghỉ thêm ba ngày. Tư Hùng thì chỉ xin được ba ngày, rồi cũng phải trở lại tàu. Ba buổi sáng đầu tuần, sáng nào anh cũng ra gốc bần với Huờn. Hai người làm lại cái mộ nhỏ của thằng Hai Bồng, xây cao thêm một chút, tô lại xi măng, đặt một tấm bia đá nhỏ có khắc tên, năm sinh năm mất. Nhưng tấm xi măng mẻ góc có dòng chữ khắc bằng đầu đinh, bà Tư không cho bỏ. Bà bảo đặt nó nằm ngay trước tấm bia mới, chỗ ai thắp nhang cũng thấy. Con Hai của ba má.
Buổi sáng cuối cùng trước khi vợ chồng Huờn về lại Sài Gòn, Hai Thành ra gốc bần. Anh ta không nói gì, chỉ xắn tay áo, xách thùng hồ, đưa gạch cho Huờn xây. Ba người đàn ông làm im lặng tới gần trưa. Lúc nghỉ tay, ngồi dưới gốc bần uống nước dừa, Hai Thành hỏi, mắt nhìn mặt mương:
– Sáu lần ba lên chỗ mầy, ba có khen mầy câu nào không?
Huờn nghĩ một lúc.
– Không, anh Hai. Ba chỉ hỏi con làm vậy với ai cũng vậy hả. Con nói dạ. Ba gật đầu.
Hai Thành nhìn em rể, rồi bật cười. Lần đầu tiên từ hôm đám, anh ta cười, cái cười khan khan của người vừa khóc xong.
– Vậy là ba cũng không khen mầy.
– Dạ không.
– Ba gật đầu với tao ba lần. Đậu đại học, mua xe, lên trưởng phòng. – Anh ta uống một ngụm nước dừa. – Giờ tao mới hiểu. Ba gật đầu là ba khen rồi đó. Ba chỉ không biết nói.
Tư Hùng ngồi bên cạnh, vỗ lên vai anh Hai mình một cái thật mạnh, như hồi ba anh em còn nhỏ.
Con Me thì khác hẳn. Hôm thứ Ba, Huờn thấy nó ngồi trên bờ mương với thằng Còi, hai đứa thả mấy cái thuyền làm bằng bẹ dừa. Thằng Còi hỏi nó ba mày có sợ ma không. Con Me nói ba tao nói người chết không làm gì mình hết, người sống mới làm. Thằng Còi nghĩ một hồi, rồi nói vậy hả, rồi xin lỗi nó vụ hôm trước. Con Me nói thôi được, rồi đưa cho nó cái thuyền bẹ dừa đẹp nhất.
Út Hẹn đứng ở hiên nhà nhìn hai đứa nhỏ, rồi quay sang chồng, nói nhỏ:
– Hồi đó em giấu nghề của anh với đồng nghiệp ở siêu thị. Em nói anh làm ở bệnh viện.
– Anh biết.
– Về đi làm lại, em nói thật.
Huờn nhìn vợ. Anh không nói gì, chỉ đưa tay vuốt cái tóc mái lòa xòa trên trán cô, như anh vẫn làm.
Rồi tới ngày cúng tuần đầu tiên.
Huờn, Út Hẹn và con Me về từ Sài Gòn sáng sớm, đi chuyến xe khách sáu giờ. Xuống ngã ba, ba người đi bộ vô xóm, qua con lộ đất, qua mấy gốc dừa nơi hai chiếc xe tang từng đậu đối đầu nhau. Cái rạp xanh lá đã dỡ xong. Cái sân đất được quét sạch, tưới nước cho khỏi bụi. Mấy bà hàng xóm đã ở trong bếp, khói bếp củi bay lên qua hàng dừa.
Tới cổng tre, Huờn dừng lại. Anh nhìn lên bậc thềm.
Không có chén muối.
Bậc thềm trống trơn, được lau sạch, còn ướt nước. Ở chỗ cái chén muối vẫn được đặt suốt mười năm, giờ chỉ còn một vệt ướt hình tròn, như vết một cái chén vừa được nhấc lên.
Anh bước lên bậc thềm, vô nhà.
Trên bàn thờ ở gian giữa, giữa hai cây đèn dầu, ông Tư Đước đội nón lá đứng giữa đàn vịt, cười nheo mắt nhìn ra cửa. Cạnh tấm ảnh của ông, có thêm một bát nhang nhỏ, cắm ba cây nhang đã cháy được một nửa. Phía trước bát nhang nhỏ ấy, không có ảnh, chỉ có một tờ giấy đỏ viết tay một cái tên. Lê Văn Bồng. Chữ của bà Tư, nét run run, nghiêng về một bên, giống hệt nét chữ khắc bằng đầu đinh trên tấm xi măng mẻ góc. Út Hẹn đứng cạnh chồng, nói nhỏ: má kêu anh Hai viết, anh Hai không chịu, nói chữ này má phải tự viết.
Cả nhà cúng xong thì dọn mâm. Hai mâm trải trên chiếu giữa nhà. Mâm trên có bà Tư, Hai Thành, chị Giang, chị Ba Mỹ, Tư Hùng đã trở lại tàu, chỗ của anh để trống. Mâm dưới có dì Sáu Nhơn, anh Tám Rảnh, bà Bảy Lược và bọn con nít. Út Hẹn dắt con Me ngồi xuống mâm dưới, như mười năm nay vẫn ngồi. Huờn ngồi xuống cạnh vợ.
Bà Bảy Lược vừa ngồi xuống đã ngước nhìn lên bàn thờ một hồi lâu, rồi nói một câu, không với ai cụ thể: bốn mươi tám năm, bữa nay tao mới thấy cái nhà này cúng thằng nhỏ.
– Út, – bà Tư gọi. – Lên đây. Dẫn chồng mầy lên đây.
Cả hai mâm im lặng. Út Hẹn nhìn chồng. Huờn đứng dậy. Hai vợ chồng dắt con Me lên mâm trên, ngồi vào chỗ trống mà Tư Hùng để lại, ngay bên tay trái bà Tư.
Hai Thành nhìn em rể, nhìn rất lâu, không còn cái nhìn của hôm thứ Năm. Anh ta cầm bình rượu đế lên, rót đầy một ly nhỏ, đẩy sang trước mặt Huờn. Không nói gì.
Bà Tư Sen cầm cái chén sứ trắng. Bà mở nắp nồi cơm, xới một chén đầy, xới thêm một vá cho có ngọn, như người ta xới cho khách quý. Bà gắp lên trên một khúc cá lóc kho tộ, thứ ông Tư thích nhất, chan thêm một muỗng nước kho.
Rồi bà quay sang, đưa chén cơm cho Huờn bằng hai tay.
— Hết —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe