Chương 4: Khách của anh Hai
Khách của anh Hai tới từ chín giờ sáng, và tới suốt cả ngày thứ hai.
Họ đi xe hơi, đậu dọc con lộ đất trước cổng, đậu tới tận đầu xóm, mấy đứa con nít trong xóm đứng coi như coi hội. Họ mặc sơ mi trắng, quần tây đen, đeo kính râm, bước xuống xe là đưa tay sửa cổ áo. Họ mang theo những vòng hoa lớn nhất mà cái xóm này từng thấy, hoa cúc trắng, hoa lan tím, kết thành hình tròn cao hơn đầu người, dựng hai hàng từ cổng vô tới rạp. Mỗi vòng hoa có một dải băng vải ghi tên công ty, tên phòng ban, tên người gửi. Cái rạp xanh lá trở nên chật chội.
Người đến sớm nhất là một ông chừng năm mươi, tóc muối tiêu chải gọn, đeo đồng hồ vàng. Hai Thành gọi ông là anh Khải, giám đốc khu vực. Anh Khải thắp nhang, cúi đầu ba cái trước bàn thờ, rồi bắt tay bà Tư bằng cả hai tay. Rồi anh quay sang Hai Thành, vỗ vai, nói nhỏ mà ai đứng gần cũng nghe: em chịu khó, ba em được nằm khu Thiên Phúc là phước lắm đó, khu đó giờ hết chỗ rồi.
Cô gái mặc váy đen, tên Thy, đi theo anh Khải từng bước, máy quay cầm tay. Cô quay vòng hoa, quay bàn thờ, quay cảnh Hai Thành cúi đầu đón khách, quay xấp giấy in hình những ngôi mộ trắng trên cái bàn nhỏ phủ khăn. Rồi cô quay cảnh Hai Thành đứng giữa rạp nói với khách.
– Ba tui cả đời cực khổ, – Hai Thành nói, giọng nghẹn đúng chỗ. – Chạy đồng vịt bốn chục năm, ngủ ghe, ăn bờ. Tui làm con, không báo hiếu được gì nhiều. Giờ ba đi, tui muốn ba được về một chỗ đàng hoàng, có cỏ xanh, có cây mát, có người chăm sóc quanh năm. Không phải nằm ngoài ruộng, ngoài vườn như ông bà mình hồi xưa nữa.
Khách vỗ tay. Có người vỗ tay ở đám tang. Bà Bảy Lược đang ngồi bóc hành sau hè ngẩng lên, nhìn về phía rạp, rồi nhổ một bãi nước trầu xuống đất.
Huờn ngồi ở bàn cuối, gần chỗ người ta để thùng nước đá. Anh nhìn anh vợ nói. Anh nghĩ đến câu ông Tư từng nói với anh trên cái ghế đá dưới gốc bàng: tụi nó giành thì con đừng giành. Anh chưa hiểu hết câu đó. Bây giờ thì anh hiểu thêm được một chút.
Gần trưa, chị Ba Mỹ về tới. Chị ở Sài Gòn, buôn vải ở chợ, nghe tin hôm qua mà không về kịp vì phải gửi hai đứa con nhỏ cho nhà chồng. Chị vào lạy cha, khóc một hồi lâu bên cái hòm, rồi ngồi với mẹ. Đến chiều, Huờn thấy chị kéo Hai Thành ra sau hè, chỗ đống củi.
– Anh Hai. Hai cái lô em mua bên công ty anh hồi năm ngoái, anh nói qua năm nay bán lại được gấp rưỡi. Em hỏi anh hoài mà anh cứ nói từ từ. Em đang cần tiền đóng học cho thằng lớn.
– Để sau đám. – Hai Thành nói. – Đám ba mà em hỏi chuyện đó.
– Em hỏi tại em thấy khách anh tới đông vậy, chắc công ty làm ăn được.
– Thì được. Thì từ từ. – Anh ta đi vô, không quay lại.
Chị Ba Mỹ đứng một mình ở đống củi rất lâu.
Huờn còn nghe thêm hai lần câu chuyện đó trong buổi chiều. Một lần là dì Sáu Nhơn hỏi Hai Thành lô của dì giờ giá bao nhiêu. Một lần là một ông bà con xa ở xóm trên, ông nói với vợ: thằng Thành nó bán cho mình cái lô đó mà mình đã thấy cái lô ra sao đâu, mới coi hình thôi.
Gần bốn giờ, anh Khải chuẩn bị về. Hai Thành tiễn ông ra tận xe. Huờn đang xách hai thùng nước đá từ ngoài lộ vô, đi ngang qua chỗ chiếc xe hơi đen bóng, nghe được mấy câu. Anh Khải nói, giọng vẫn nhỏ nhẹ như lúc thắp nhang: em lo cho cảnh hạ huyệt đẹp, quay cho kỹ, chừng đó là phòng truyền thông dựng được một đoạn. Bên trên đã duyệt cho em rồi, có đoạn phim là trừ cho em một phần, phần còn lại em ráng gom trong quý này. Hai Thành dạ, dạ, đầu cúi thấp hơn lúc anh ta cúi trước bàn thờ cha. Anh Khải vỗ vai anh ta, lên xe, đóng cửa.
Huờn xách hai thùng nước đá đi tiếp, không quay lại. Nhưng ở góc rạp, chỗ để mấy chồng chén bát, chị Hai Giang đứng chết trân, tay còn cầm cái khăn lau, mặt tái đi. Chị đã nghe hết. Chị thấy Huờn nhìn mình thì cúi xuống lau tiếp cái chén đã khô từ lâu.
Suốt buổi chiều, Huờn cứ nghĩ mãi về chữ trừ. Trừ cái gì, trừ cho ai, anh không biết. Anh chỉ biết người ta không trừ cho ai cái gì nếu người đó không đang nợ.
Con Me chơi với bọn con nít suốt buổi sáng, nhưng tới chiều thì nó không chơi nữa. Nó ngồi một mình trên bậc thềm, cạnh cái chén muối đã có ai đổ đi từ lúc nào, chỉ còn cái chén không. Huờn đi tới ngồi xuống cạnh con. Con nhỏ nhích ra một chút, xa ba.
– Thằng Còi nói gì con nữa hả?
Con Me không trả lời. Một lúc lâu, nó hỏi, mắt nhìn xuống chân:
– Ba ơi, ba làm nghề khác được hông?
Huờn nhìn con gái. Anh đã nghĩ tới câu hỏi đó từ hồi con bé còn đỏ hỏn, nhưng anh không nghĩ nó tới sớm như vậy.
– Con muốn ba làm nghề gì?
– Nghề gì cũng được. Bán hàng. Chạy xe. Làm như ba thằng Còi. – Nó ngừng một chút. – Tụi nó nói ba đụng người chết, tay ba dơ, ba ôm ai thì người đó xui.
Huờn nhìn hai bàn tay mình. Sáng nay hai bàn tay ấy đã chải tóc cho ông ngoại con bé.
– Sáng nay con thấy ông ngoại chưa?
– Dạ thấy.
– Ông ngoại có giống người ngủ hông?
Con nhỏ gật đầu.
– Ai làm cho ông ngoại giống người ngủ?
Con Me không trả lời. Nó nhìn ba, rồi nhìn vô trong nhà, chỗ cái hòm chạm rồng. Nó không nói gì nữa. Nhưng nó cũng không nhích ra xa thêm.
Chiều tối, khách của anh Hai về gần hết. Cô Thy xếp máy quay vào túi, nói với Hai Thành: anh ơi, em quay đủ rồi, ngày đưa đi em quay thêm cảnh xe vào cổng khu Thiên Phúc với cảnh hạ huyệt là dựng được. Hai Thành gật đầu, mặt mệt mỏi.
Huờn đi ra mé mương sau nhà, đứng hút một điếu thuốc. Anh ít khi hút. Trời chạng vạng, ráng đỏ phía bên kia sông Hàm Luông, mấy chiếc ghe chở dừa chạy về chợ, tiếng máy đuôi tôm nổ phành phạch. Anh rút điện thoại ra, mở thư mục ảnh, kéo xuống tận tháng Năm.
Lần thứ ba ông Tư lên Sài Gòn, ông không ngồi ở ghế đá. Ông đứng ở cổng, tay xách một cái bịch ni lông đen, đợi Huờn ra rồi đi thẳng vô phòng làm việc của ông Sáu Phát, như người đã tính kỹ đường đi nước bước. Ông đặt cái bịch lên bàn. Trong bịch là tiền, những xấp tiền nhàu nhĩ buộc dây thun, có xấp còn dính lông vịt.
– Bốn chục triệu, – ông nói. – Tiền bán bầy vịt cuối cùng. Ba trăm con. Ba chạy đồng tới năm nay thì thôi.
Ông Sáu Phát nhìn cái bịch tiền, nhìn ông già, rồi nhìn Huờn. Huờn hiểu, nhưng anh vẫn hỏi.
– Ba tính làm gì vậy ba?
– Đặt trước cái đám cho ba. – Ông nói như nói chuyện đặt ghe. – Làm đơn giản. Thằng Huờn tẩm liệm. Hòm gỗ dầu, không chạm trổ. Kèn trống một ban thôi, ba ngày. Chôn ở vườn nhà, cuối vườn, gốc bần sát mé mương.
Ông Sáu Phát rót trà mời ông, nói chuyện giấy tờ. Ông Tư nghe kỹ, hỏi lại mấy chỗ, rồi điểm chỉ vào tờ hợp đồng, vì ông viết chữ chậm, sợ người ta đọc không ra.
Ra tới ghế đá, ông đưa cho Huờn cái điện thoại cũ bấm phím của ông, rồi lại lấy lại, lắc đầu.
– Cái này không quay hình được. Con lấy máy con quay giùm ba.
– Quay gì ba?
– Ba nói mấy lời. Mai mốt ba chết, tụi nó giành, con mở cho tụi nó coi.
Huờn ngồi im một lúc.
– Ba, sao ba không nói thẳng với má, với anh Hai?
Ông Tư nhìn ra cổng, nơi một chiếc xe tang đang chạy ra.
– Má mầy không chịu nghe chữ chết. Bốn mươi tám năm rồi, nhắc tới là má mầy bỏ đi chỗ khác. – Ông ngừng lại. – Còn thằng Thành… thằng Thành thì ba nói nó không nghe đâu. Nó thương ba theo kiểu của nó.
Huờn giơ điện thoại lên. Ông Tư ngồi thẳng lưng trên ghế đá, hai tay đặt trên đầu gối, nhìn vào ống kính như nhìn một người lạ, rồi bắt đầu nói. Đoạn ghi hình dài bốn phút mười hai giây. Năm tháng nay, Huờn chưa mở lại lần nào. Anh chỉ nhớ lúc quay xong, ông lấy vạt áo bà ba chậm lên mắt, nói tại gió bụi Sài Gòn, rồi đội nón đi bộ ra trạm xe buýt, không cho anh chở.
Tối đó, sau khi con Me ngủ, Huờn gọi Út Hẹn ra mé mương. Anh không nói gì trước. Anh đưa điện thoại cho vợ, bấm nút.
Trên màn hình nhỏ, ông Tư Đước ngồi trên ghế đá dưới gốc bàng, mặc cái áo bà ba nâu bạc vai. Ông hắng giọng.
– Tui là Lê Văn Đước. Tui còn tỉnh, tui nói mấy lời này cho vợ con tui nghe. Tui chết thì để thằng Huờn lo cho tui, tui đã đặt tiền trước. Đừng làm lớn. Đừng nhận tiền phúng điếu của người dưng. Chôn tui ở gốc bần cuối vườn, sát mé mương, kế bên thằng Hai. Thằng Hai nằm đó bốn mươi tám năm rồi, một mình. Tui muốn nằm với nó.
Út Hẹn nhìn màn hình, rồi nhìn chồng. Giọng cô run lên.
– Thằng Hai nào anh? Anh Hai đang ngồi ngoài rạp kia mà.
— Hết chương 4 —

🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe
🏠 Gia đình & vả mặt🎧 Nghe