AI Truyện
Thằng rể làm nghề tẩm liệm

🏠 Gia đình & vả mặt

Cái mộ dưới gốc bần

Thằng rể làm nghề tẩm liệm · Chương 5/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Cái mộ dưới gốc bần

Huờn tắt điện thoại, bỏ vô túi. Anh nhìn mặt nước mương tối thẫm, nơi mấy con đom đóm bay lập loè trên đám lục bình.

– Em có một ông anh Hai, – anh nói. – Ổng tên Bồng. Mất năm Mậu Ngọ, hồi ba tuổi.

Út Hẹn nhìn chồng như nhìn một người lạ vừa nói một thứ tiếng lạ.

– Ai nói anh vậy?

– Ba.

Hẹn ngồi phịch xuống bờ mương, hai tay ôm đầu gối. Ba mươi sáu năm làm con út trong cái nhà này, cô chưa từng nghe ai nhắc tới một đứa con nào khác. Ở bàn thờ trong nhà chỉ có ông bà nội, ông bà cố. Ngày giỗ trong năm, cô thuộc lòng từng cái. Không có cái giỗ nào cho một đứa con nít.

– Anh biết hồi nào?

– Tháng Bảy.

Tháng Bảy, Huờn xin nghỉ hai ngày, nói với vợ đi Long An lo một cái đám ở xa. Anh đón xe khách về đây, xuống ở ngã ba lúc chạng vạng, đi bộ vô xóm bằng lối đường ruộng phía sau. Ông Tư Đước đợi anh ở đầu mương, tay cầm cây đèn pin và một cây cuốc. Lần thứ năm ông lên Sài Gòn, ông đã dặn: tháng Bảy con về, đừng cho ai biết, ba nhờ con một việc.

Hai cha con đi dọc theo mé mương ra tới cuối vườn, nơi có một cây bần già nghiêng mình ra mặt nước, rễ thở nhô lên lởm chởm như những ngón tay. Ông Tư đứng dưới gốc bần, rọi đèn xuống đất, đi tới đi lui, đếm bước, dừng lại, rồi lại đi.

– Hồi đó ba chôn nó sát gốc bần, – ông nói. – Cây bần hồi đó mới bằng cổ tay. Ba đắp mộ cao, má mầy lấy cây đinh viết tên nó lên tấm xi măng. Mấy chục mùa nước, đất bồi, đất lở, cây bần lớn lên, cái mộ lún mất. Ba đi tìm mấy năm nay rồi mà không dám cuốc mạnh.

Huờn cầm cây cuốc. Anh cuốc nhẹ như người ta xới đất trồng rau, từng lớp mỏng, rồi bỏ cuốc, quỳ xuống, bới bằng tay. Đất sát mé mương ẩm và mềm, có mùi rễ cây mục và mùi bùn non. Bới chừng hai gang tay thì móng tay anh chạm vào một thứ cứng, phẳng.

Ông Tư quỳ xuống bên cạnh anh. Hai cha con bới quanh cái vật cứng đó, gạt từng nắm đất ra. Một tấm xi măng nhỏ cỡ viên gạch tàu, rêu bám xanh, một góc đã mẻ. Ông Tư lấy vạt áo lau tấm xi măng. Dưới ánh đèn pin, hiện ra mấy hàng chữ khắc bằng đầu đinh, nét chữ run run của một người đàn bà hai mươi sáu tuổi viết trong lúc khóc: Lê Văn Bồng. Sinh năm Ất Mão. Mất năm Mậu Ngọ. Con Hai của ba má.

Ông Tư ngồi bệt xuống đất, hai tay ôm tấm xi măng vào lòng như ôm một đứa nhỏ.

Đêm đó hai cha con đắp lại cái mộ, cao cỡ đầu gối, vuông vức, xếp mấy viên gạch thẻ quanh chân. Ông Tư cắm lên đầu mộ một bó nhang. Rồi ông ngồi đó nói chuyện với thằng Hai, như nói với một đứa con đi xa mới về. Ông kể chuyện bầy vịt năm nay, chuyện giá dừa, chuyện con Út lấy chồng làm nghề lo cho người chết, chuyện cháu ngoại tên Me. Huờn ngồi cách đó mấy bước, nghe hết.

Gần sáng, ông Tư mới kể cho Huờn nghe.

Mùa nước năm Mậu Ngọ, ông bà Tư còn trẻ, chạy đồng vịt trên vùng Đồng Tháp Mười. Hai vợ chồng với thằng Hai sống trên một chiếc ghe nhỏ, chạy theo đàn vịt hơn hai ngàn con từ đồng này qua đồng khác. Năm đó nước lên dữ chưa từng thấy, lên ngập cả nóc nhà người ta. Một buổi chạng vạng, ông đi lùa vịt về đìa, bà nấu cơm sau lái ghe, thằng Hai ngồi chơi trước mũi. Khi bà quay lên thì mũi ghe trống trơn. Hai vợ chồng lặn ngụp suốt đêm. Sáng ra, người ta tìm thấy nó mắc trong bụi điên điển cách đó một khúc sông.

– Ba chở nó về đây chôn, – ông nói. – Má mầy không đi theo vịt nữa. Một năm sau má mầy đẻ thằng Thành. Đặt tên khai sinh là Thành, mà ở nhà ba vẫn kêu nó thằng Hai. Má mầy giận ba lắm, nói sao đem tên con mình đã chết đặt cho đứa còn sống. Ba nói thằng Hai đi rồi, nhà phải có thằng Hai. Mấy chục năm, má mầy không cho ai nhắc tới thằng Bồng. Không giỗ, không thắp nhang, không kể cho con cái. Má mầy nói nhắc tới là nó không đi được. Riết rồi cả xóm cũng quên. Chỉ còn bà Bảy Lược nhớ.

Huờn kể lại cho vợ nghe tất cả những điều đó, ngồi bên mé mương, dưới cái trăng mười ba đã lên cao quá rặng dừa.

Út Hẹn ngồi im rất lâu. Khi cô nói, giọng cô không còn run nữa, mà khô lại, như giọng người bị bỏ quên.

– Sao ba nói với anh mà không nói với em? Em là con ruột ba mà.

Huờn đã đợi câu hỏi đó từ tháng Bảy. Anh đã tập trả lời nó nhiều lần trong đầu, và lần nào cũng thấy câu trả lời không đủ.

– Ba nói em giống má. Em khóc là má biết liền. Má biết thì má không cho ba đào. – Anh ngừng lại. – Với lại ba nói, chuyện này phải để một người đã quen ngồi với người chết làm, thì mới không sợ.

– Còn em thì sợ hả?

– Em thương ba. Thương thì sợ, em.

Hẹn quay mặt đi. Ngoài mương, một con cá quẫy mạnh làm vỡ cái bóng trăng thành từng mảnh vụn. Cô nhìn những mảnh trăng vỡ trôi dạt vào đám lục bình, rồi chúng từ từ liền lại. Mười năm lấy chồng, cô vẫn nghĩ cái nghề của chồng là thứ cô phải chịu đựng, phải bênh vực, phải giải thích với người khác. Cô chưa bao giờ nghĩ có ai lại chọn chồng cô vì chính cái nghề ấy.

Út Hẹn vẫn chưa khóc. Rồi cô đứng dậy.

– Em muốn ra coi.

Hai vợ chồng đi dọc theo mé mương, rọi đèn pin xuống đất. Cây bần già hiện ra cuối vườn, nghiêng mình trên mặt nước, đúng như Huờn kể. Dưới gốc bần, cái mộ nhỏ cao cỡ đầu gối, mấy viên gạch thẻ đã phủ một lớp rêu mỏng, đầu mộ có tấm xi măng mẻ góc. Út Hẹn quỳ xuống, đưa ngón tay lần theo những nét chữ khắc bằng đầu đinh. Con Hai của ba má. Cô lần đi lần lại, như người mù đọc chữ nổi.

– Má viết hả anh?

– Ba nói vậy.

Cô cúi đầu, trán chạm vào tấm xi măng lạnh. Lúc đó cô mới khóc.

Huờn đứng sau lưng vợ. Anh rút trong túi ra cái túi ni lông nhỏ có con vịt gỗ, đưa cho cô. Cô cầm lên, nhìn cái mỏ đỏ chói dưới ánh đèn pin.

– Ba khắc cho ổng hồi đó, – Huờn nói. – Ổng cầm con vịt này ngồi chơi trước mũi ghe. Người ta tìm thấy ổng, tay vẫn còn nắm nó. Bốn mươi tám năm, ba bỏ trong túi áo. Cái mỏ thì năm nào ba cũng sơn lại.

Út Hẹn ôm con vịt gỗ vào ngực.

Cô nhớ ra, hồi cô còn nhỏ, mỗi dịp gần Tết ba hay ngồi một mình ở chái bếp với một lọ sơn đỏ nhỏ xíu và một cây cọ làm bằng lông gà. Cô hỏi ba sơn cái gì, ba nói sơn cái mỏ con vịt mồi cho nó biết đường về. Cô tưởng ba nói chuyện bầy vịt. Ba mươi năm, cô chưa từng thấy con vịt mồi nào trong nhà.

Đúng lúc đó, phía trên vườn có tiếng người la lớn.

– Ai đó? Ai ở ngoài mả đó?

Một cây đèn pin rọi xuống, rồi hai cây, ba cây. Tiếng chân người chạy rầm rập trên bờ mương. Tiếng con chó nhà bên sủa dồn. Người chạy tới đầu tiên là anh Tám Rảnh, con trai dì Sáu Nhơn, đêm nay ở lại canh đám. Anh ta rọi đèn vào mặt Huờn, rồi rọi xuống cái mộ nhỏ, rồi rọi vào con vịt gỗ trong tay Út Hẹn.

– Trời đất ơi! – Anh ta la lên. – Thằng Huờn nửa đêm ra mả làm bùa! Bà con ơi, nó đào mả!

– Anh Tám, không phải…

Nhưng tiếng la đã lan ngược về phía nhà. Đèn bật lên trong rạp. Người ta lục tục kéo ra, có người còn cầm theo cây chổi, cây gậy. Chị Hai Giang chạy ra, khoác cái áo gió. Dì Sáu Nhơn chạy ra, miệng niệm Phật. Có người nói nghề đó là nghề có bùa, nghe nói tụi nhà đòn hay lấy đất mả về làm phép. Có người nói thảo nào ông Tư mất đột ngột.

Giữa đám người lớn, con Me đứng chân trần, tóc rối bù, tay còn ôm cái gối nhỏ. Nó mở to mắt nhìn ba mẹ nó dưới gốc bần, nhìn những cây gậy, cây chổi trong tay người lớn chĩa về phía ba nó.

Hai Thành chạy ra sau cùng, áo không cài nút, tay cầm cây đèn pin lớn. Anh ta rẽ đám người, rọi thẳng đèn vào em rể.

– Mầy làm cái gì ở đây?

Huờn không trả lời. Út Hẹn đứng dậy, chắn trước mặt chồng, hai tay vẫn ôm con vịt gỗ. Cái điện thoại của Huờn cô cầm trong tay kia, trong lúc lúng túng cô đã bấm nhầm vào màn hình. Đoạn ghi hình chạy lại từ giữa. Giữa tiếng chó sủa và tiếng người xì xào, giọng ông Tư Đước vang lên từ cái loa nhỏ xíu, khàn, chậm, rõ từng chữ.

– …chôn tui ở gốc bần cuối vườn, sát mé mương, kế bên thằng Hai. Thằng Hai nằm đó bốn mươi tám năm rồi, một mình. Tui muốn nằm với nó.

Cả bờ mương lặng đi. Con chó nhà bên cũng thôi sủa.

Hai Thành đứng sững. Cây đèn pin trong tay anh ta từ từ hạ xuống, rọi vào cái mộ nhỏ dưới gốc bần, vào tấm xi măng mẻ góc có mấy hàng chữ khắc bằng đầu đinh. Anh ta nhìn những chữ đó rất lâu.

Rồi anh ta ngẩng lên, nhìn Huờn. Giọng anh ta không lớn, nhưng cả bờ mương đều nghe.

– Mầy nói lại coi. Ba muốn nằm với ai?

— Hết chương 5 —

Mục lục Thằng rể làm nghề tẩm liệm

  1. 1Ba dặn đừng cho nó đụng vô9 phút
  2. 2Tháng Ba, ông già đi tái khám9 phút đọc
  3. 3Đá khô không đặt chỗ đó9 phút đọc
  4. 4Khách của anh Hai9 phút đọc
  5. 5Cái mộ dưới gốc bần9 phút đọc
  6. 6Họp nhà sáng thứ Bảy9 phút đọc
  7. 7Mùa nước năm Mậu Ngọ9 phút đọc
  8. 8Người bán đất mộ9 phút đọc
  9. 9Hai chiếc xe tang trước cổng9 phút đọc
  10. 10Chén cơm ngày cúng tuần9 phút đọc

Về truyện này

Thằng rể làm nghề tẩm liệm là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Khánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →