Chương 9: Răng lược gãy
Thầy Lưu cho kê cái hòm gỗ ngay dưới gốc trôm, chỗ bà cụ bán nước chè vẫn đặt ấm đồng. Bà cụ phải bưng ấm sang một bên. Thầy ngồi lên một cái ghế đẩu người lính mang theo, dù giấy dầu vẫn che trên đầu, dù dưới tán trôm không có lấy một tia nắng.
– Làng Bàu Nhum. – Thầy nói, giọng the thé. – Năm ni nộp bao nhiêu tấm, nộp ra đây. Nhà mô thiếu thì đàn ông nhà đó đứng sang một bên.
Ông lý trưởng bước ra, chắp tay.
– Bẩm thầy, làng con nộp đủ. Nhà mô cũng đủ. Còn dư.
Thầy Lưu nhướng mày. Rồi thầy cười.
– Đủ thì đo.
Người lính mở hòm, lấy ra cây thước gỗ hai đầu bịt đồng. Ông lý trưởng sai người khiêng tấm vải đầu tiên ra, vải của nhà bà Hai Cỏ, hai mép viền chỉ đỏ. Thầy Lưu cầm thước, đo. Thầy đo nhanh, lật thước cạch cạch, như mọi năm.
– Mười chín. Hai mươi. – Thầy dừng lại ở đoạn cuối. – Thiếu. Không nhận.
Đám đông xôn xao. Bà Hai Cỏ đứng ở hàng đầu, mặt đỏ gay. Tấm vải ấy bà dệt hai đêm liền không ngủ.
Tôi bước ra.
– Bẩm thầy, con xin thầy cho đo lại.
Thầy Lưu ngẩng lên, nhìn tôi. Đôi mắt thầy nheo lại.
– Con Đậu nhà mệ Lành. – Thầy nói. – Lại mi. Lần trước tau nói rồi, thước của quan, con gái nhà quê không được cầm.
– Dạ, con không xin cầm thước của thầy. – Tôi nói. – Con xin đo bằng thước công.
Tôi giơ cao thanh tre trong tay lên cho cả gốc trôm cùng thấy. Một thanh tre thẳng, vàng óng, hai đầu gọt nhẵn, trên thân có một vạch khắc sâu.
– Thanh tre ni con cắt ở cột đá sân đình chợ phủ Triệu An, đúng thước đồng trên cột, ông giữ cột đứng nhìn. – Tôi nói to. – Ai trong phủ ni mua bán vải cũng đo ở cột đá đó. Thu thuế cũng phải đo bằng thước đó.
Thầy Lưu cười khẩy.
– Một thanh tre. Mi nói mi cắt ở chợ phủ thì ai tin?
– Thầy không tin thanh tre của con thì thầy tin thước của người khác. – Tôi quay lại. – Bà ơi.
Bà già trên nguồn bước ra khỏi đám người làng bà. Bà không biết nói nhiều tiếng dưới xuôi, nhưng bà biết cầm cây thước của bà, cây thước gỗ mua ở chợ phủ, đặt sát cạnh thanh tre của tôi. Hai đầu khớp nhau.
Ông Bảy Nghêu bước ra, đặt cây thước đo lưới của ông cạnh hai cây kia. Khớp.
Tôi đặt cây thước gỗ mít của bọ con Đậu xuống cạnh ba cây kia. Khớp.
Bốn cây thước nằm cạnh nhau trên mặt chiếc chiếu trải dưới gốc trôm, dài bằng nhau như bốn ngón tay một bàn tay.
Rồi tôi cầm cây thước hai đầu bịt đồng của thầy Lưu, cây thước mà người lính vừa đặt xuống chiếu, và đặt nó cạnh bốn cây kia.
Nó dài hơn. Không nhiều. Dài hơn chừng một đốt ngón tay. Nhưng trên mặt chiếu, cạnh bốn cây thước bằng nhau tăm tắp, cái đốt ngón tay ấy lồi ra rõ như một cái răng khểnh.
Gốc trôm im lặng. Rồi có tiếng ai đó trong đám đông nói, không to lắm:
– Dài hơn thiệt.
Rồi người khác:
– Dài hơn một đốt tay. Hai mươi mốt thước thì dư ra gần một gang.
Rồi cả gốc trôm ồn lên như ong vỡ tổ.
Thầy Lưu đứng bật dậy. Cái dù giấy dầu lệch sang một bên.
– Láo! – Thầy quát. – Thước của phủ cấp cho tau. Bốn cây thước của dân quê, ai biết mua ở mô, ai biết có ai đẽo bớt! Lính đâu, bắt con ni!
Hai người lính nhìn nhau. Rồi nhìn đám đông dưới gốc trôm, mấy trăm con mắt đang nhìn lại họ. Họ không nhúc nhích.
Tôi không nhìn thầy Lưu. Tôi nhìn lái Kình.
Ông vẫn ngồi trên càng xe bò, hai tay cầm dây thừng buộc mũi bò. Nụ cười trên mặt ông đã tắt từ lúc nào. Ông nhìn bốn cây thước trên chiếu, rồi nhìn cây thước bịt đồng, rồi nhìn đám đông.
– Ông Kình. – Tôi nói. – Ông cũng có một cây thước. Ông nói ông mua ở chợ phủ. Bữa trước ông đo hai tấm vải con giao cho ông, ông nói đủ hai mươi mốt thước. Ông cho con mượn cây thước của ông đặt xuống đây được không?
Lái Kình không trả lời. Ông ngồi yên trên càng xe.
– Ông không cần đưa thước cũng được. – Tôi nói, giọng không to. – Con chỉ muốn hỏi ông một câu. Trên xe ông có mấy tấm vải buộc lạt đỏ, gỗ khắc chữ "thuế". Trong đó có một tấm vải gai trắng, giữa khổ có một đường sọc mảnh. Tấm vải đó là của mệ con. Thầy Lưu đo bằng cây thước bịt đồng, bảo thiếu, tạm giữ, hẹn năm ni đủ thì trả. Con muốn đo lại tấm đó bằng thước công, ngay ở đây. Nếu đủ, thầy Lưu trả lại cho nhà con.
Mệ Lành đứng ở rìa đám đông, chống gậy. Bà không nói gì. Bà Hai Cỏ đứng bên cạnh bà, lần đầu tiên sau bốn mươi năm, gần đến mức hai vai chạm nhau.
– Tấm vải mô có sọc mà không phải vải mụ Lành. – Bà Hai Cỏ nói to. – Cả làng ni ai cũng nhận ra. Mấy tấm viền chỉ đỏ trên xe đó là vải nhà tau. Năm ngoái thầy Lưu bảo thiếu, tạm giữ, tau phải đi mượn lái Kình hai tấm mà nộp.
Lái Kình nhìn xuống cái xe bò của ông, những chồng vải buộc lạt đỏ.
Tôi biết ông đang tính. Ông là người buôn liều mạng qua đèo cướp, bị đánh gãy hai cái răng mà không buông dây bò. Ông không ngu. Ông biết hôm nay có mấy trăm người đứng ở gốc trôm, người Bàu Nhum, người Hà Tân, người trên nguồn. Ông biết cái nhà buôn râu dê ở chợ phủ đã mua những tấm vải có sọc ấy mấy năm liền, tấm nào cũng đủ thước công. Ông biết chuyện hôm nay sẽ chạy đến phủ trước khi xe bò của ông về đến Hà Tân. Và ông biết, nếu quan phủ hỏi vải thuế đi đâu, thì cái xe bò chở vải ấy đứng tên ông.
Lái Kình buông dây thừng, nhảy xuống khỏi càng xe. Ông đi đến chỗ cái chiếu, rút trong thắt lưng ra một cây thước gỗ, đặt xuống cạnh bốn cây thước kia.
Khớp.
– Thước tau mua ở chợ phủ. – Lái Kình nói, giọng khàn, không còn vui vẻ chút nào. – Mười năm nay tau đo vải bằng nó.
– Kình! – Thầy Lưu rít lên.
Lái Kình không nhìn em cột chèo của mình. Ông quay về phía ông lý trưởng.
– Mấy tấm buộc lạt đỏ trên xe, thầy Lưu đưa cho tau, bảo là vải thiếu thước dân nộp không đủ, bảo tau mang lên phủ bán giùm, tiền nộp vô quỹ. Năm mô cũng rứa. – Ông nói. – Tau bán, tau đưa tiền cho thầy. Thầy có viết giấy biên nhận cho tau, tau còn giữ trong rương. Tau đâu có biết đó là vải đủ thước.
Ai nghe cũng biết câu cuối là nói dối. Một người đo vải mười năm bằng thước công không thể không biết. Nhưng không ai nói ra. Lái Kình đã chọn đứng về phía nào, và đó là điều duy nhất quan trọng lúc này.
Thầy Lưu đứng giữa gốc trôm, cái dù giấy dầu buông thõng trong tay. Mặt thầy từ trắng chuyển sang xám ngoét.
Ông lý trưởng bước lên. Giọng ông run run, nhưng ông nói rõ từng chữ.
– Bẩm thầy. Làng con xin nộp thuế bằng thước công. Thầy đo bằng thước công thì làng con nộp. Thầy không đo thì làng con làm đơn, có ông lý làng Hà Tân, có người trên nguồn làm chứng, có ông Kình mang giấy biên nhận, mang lên trình quan phủ.
Thầy Lưu nhìn quanh. Không có ai đứng về phía thầy. Hai người lính đã lùi ra sau gốc trôm. Thầy cúi xuống, nhặt thanh tre của tôi lên, cầm nó trong tay, lật qua lật lại.
Rồi thầy đo.
Thầy đo tấm vải của bà Hai Cỏ bằng thanh tre của tôi. Hai mươi mốt thước, dư hai đốt tay. Thầy đo tấm của nhà ông lý. Đủ. Thầy đo mười hai tấm của làng Bàu Nhum, tấm nào cũng đủ.
Rồi người ta mang tấm vải có sọc trên xe lái Kình xuống. Thầy đo tấm ấy cuối cùng, tay run đến mức thanh tre gõ vào nhau lách cách. Hai mươi mốt thước, dư một chút.
Lái Kình tự tay ôm tấm vải đi đến chỗ mệ Lành, đặt vào tay bà.
Mệ Lành cầm tấm vải. Bà không giở ra. Bà chỉ đưa ngón tay cái miết dọc theo mặt vải, chậm rãi, đến chỗ đường sọc mảnh ở giữa khổ, rồi dừng lại.
– Phải rồi. – Bà nói, rất nhỏ. – Của tau.
Một tháng sau, có tin từ phủ về: thầy thơ lại Lưu bị cách chức, phải bồi thường số vải thuế thu thừa của các làng trong năm năm. Ông Kình bị phạt tiền vì bán vải thuế, nhưng được tha tội đồng phạm vì đã đứng ra khai và nộp giấy biên nhận. Từ đó về sau, mỗi lần thu thuế vải, phủ cho người mang theo một cây thước đã đo ở cột đá, đóng dấu son ở hai đầu.
Phiên đổi hàng ở gốc trôm từ đó họp đều, mồng một và rằm. Người trên nguồn xuống mỗi lúc một đông. Đàn bà Bàu Nhum mang vải ra treo trên cành trôm, trắng phất phơ như cờ. Đầu năm sau, lái Kình đánh xe bò sang Bàu Nhum, không phải để mua vải giá một tiền rưỡi, mà để hỏi tôi có muốn thuê xe ông chở vải của cả làng lên chợ phủ, bán cho nhà buôn râu dê, ăn tiền công chở mỗi tấm một tiền. Tôi mặc cả xuống hai tấm một tiền rưỡi. Ông cười, để lộ hai cái lỗ răng gãy, và gật đầu.
Thằng Lượm đi lại được, chạy nhanh hơn trước. Bà Hai Cỏ ngày nào cũng sang ngồi khung cửi chung với mệ Lành, hai bà già cãi nhau từ sáng đến tối về cách mắc sợi. Ông Thuận tháo nẹp chân, chống gậy ra được đến tận gốc trôm, ngồi cuộn suốt cho đám con gái học dệt. Thằng Mót được ông Bảy Nghêu cho theo thuyền ra biển, về khoe cá với cả làng.
Một buổi chiều cuối năm, anh Tràm sang nhà tôi, mang theo một cái lược khung cửi mới. Lược tre già, ba trăm răng đều tăm tắp, sống lược mài nhẵn bóng như sừng. Anh đặt nó lên chõng ngoài hiên, không nói gì, ngồi xuống bên cạnh, nhìn ra ruộng khoai, nơi hàng dứa dại đã lên xanh rì, cao ngang thắt lưng.
Mệ Lành chống gậy ra, sờ cái lược mới, sờ từng răng một, gật gù.
– Lược đẹp. – Bà nói. – Thằng ni khéo tay hơn bọ hắn.
Rồi bà quay sang tôi.
– Mi muốn thay thì thay. Khung cửi chừ là của mi.
Tôi nhìn cái lược mới. Rồi tôi nhìn vào trong nhà, nơi cái khung cửi gỗ mít đứng ở góc, cái lược tre cũ gãy một răng vẫn lắp trên đó, nửa tấm vải đang dệt dở còn căng trên khung.
– Để cái cũ, mệ. – Tôi nói. – Lược mới con dệt vải cho nhà mình mặc. Vải mang ra gốc trôm thì phải có cái sọc ni. Người trên nguồn người ta nhìn cái sọc mà đổi gạo.
Anh Tràm quay sang nhìn tôi. Lần này anh không quay đi. Anh cười, cái cười chậm rãi của người ít nói, hai vành tai lại đỏ ửng lên.
Mệ Lành cười khùng khục, chống gậy đi vào nhà.
Đêm ấy tôi ngồi khung cửi đến khuya. Tiếng thoi đều đặn, tiếng lược dập cạch cạch. Tôi không còn phải nhắm mắt lại để cho tay con Đậu làm nữa. Tay ấy giờ cũng là tay tôi.
Gần sáng, tôi cắt tấm vải ra khỏi khung, mang ra hiên, giở ra dưới ánh trăng. Vải gai trắng ngà, dày, đều. Ở giữa khổ, chạy suốt từ đầu này sang đầu kia, có một đường sọc mảnh như sợi tóc, chỗ hai sợi dọc nằm chung một khe.
— Hết —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe