AI Truyện
Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Giếng mặn

Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành · Chương 5/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Giếng mặn

– Đào sâu thêm. – Tôi nói. – Nước ở dưới sâu. Đào sâu thêm là có nước.

Tôi nói câu ấy giữa sân đình làng Bàu Nhum, trước mặt hơn hai chục người đàn ông đen nhẻm, mặt mũi phờ phạc vì khát. Đó là ngày thứ năm sau khi cái giếng làng cạn. Cái bàu dưới chân đồi, nơi cả làng gánh nước về tưới khoai, giờ chỉ còn một vũng bùn rộng bằng cái chiếu, nước đục ngầu, nóng như nước ấm, bò và người tranh nhau từng gáo.

Ở thế giới của tôi, quê ngoại ở Quảng Bình, mùa khô năm nào người ta cũng gọi thợ đến khoan giếng. Cái máy khoan kêu ầm ầm cả ngày, mũi khoan xuống sâu ba chục mét, bốn chục mét, rồi nước phụt lên trong vắt. Tôi nhớ ông thợ khoan giếng nói với ngoại: "Nước trên mặt cạn chứ nước dưới sâu thì không bao giờ cạn, bà ạ."

Tôi nhớ câu ấy. Tôi nói lại câu ấy với làng Bàu Nhum.

Ông lý trưởng gãi đầu. Ông Bảy Nghêu ngồi ở góc, nhíu mày, nhưng không nói gì. Bà Hai Cỏ đứng ngoài đám đông, khoanh tay, nhếch mép.

Người lên tiếng là anh Tràm. Anh sang Bàu Nhum từ sáng để đưa cho mệ Lành mấy con suốt tre mới đẽo, đúng lúc làng họp.

– Đào sâu bao nhiêu, o Đậu?

– Sâu gấp đôi cái giếng bây giờ.

Anh Tràm im một lúc. Rồi anh gật đầu.

– Tôi đào với o.

Ba ngày, mười hai người đàn ông thay phiên nhau xuống giếng. Anh Tràm đóng mấy cái khung gỗ chống vách, vì cát ở dưới cứ sụt xuống từng mảng. Thằng Mót và đám trẻ con xách gàu kéo cát lên, đổ thành một đống trắng xóa bên miệng giếng. Đàn bà nấu cháo khoai mang ra. Tôi đứng ở miệng giếng cả ngày, nắng rát cháy da, nhìn xuống cái lỗ tròn mỗi lúc một sâu, một tối.

Đến chiều ngày thứ ba, có tiếng reo dưới đáy giếng.

– Nước! Có nước!

Cả làng ùa đến. Người ta thả gàu xuống, kéo lên một gàu nước trong vắt, mát lạnh. Ông lý trưởng cầm gàu, uống một ngụm lớn.

Rồi ông phun ra.

– Mặn! – Ông kêu lên, mặt nhăn nhúm. – Mặn như nước biển!

Người ta tranh nhau nếm. Ai nếm cũng phun ra. Nước lợ, mặn chát, mặn hơn cả nước bàu ven biển. Uống không được, tưới khoai thì khoai chết.

Đúng lúc ấy, có tiếng ầm dưới đáy giếng. Một mảng vách cát lớn sụt xuống, đè gãy một khung gỗ chống. Thằng Lượm, con trai ông lý, đang đứng dưới đáy, bị cát vùi đến tận thắt lưng.

Cả làng hét lên. Anh Tràm tụt xuống giếng bằng sợi dây gàu, nhanh đến mức tôi chưa kịp nhìn thấy. Anh lấy hai tay bới cát, vừa bới vừa quát người ở trên thả thêm dây. Mất gần nửa canh giờ, người ta mới kéo được thằng Lượm lên. Chân nó tím bầm, sưng vù, không đứng được, nhưng nó còn thở, còn khóc được, còn chửi được.

Anh Tràm leo lên sau cùng. Hai bàn tay anh rách tướp vì bới cát lẫn mảnh gỗ gãy. Anh không nói gì, chỉ lấy vạt áo quấn tay lại.

Tôi đứng ở miệng giếng, không nói được câu nào.

Ông lý trưởng ôm con trai, quay sang nhìn tôi. Ông không mắng. Nhưng cả làng Bàu Nhum nhìn tôi. Và bà Hai Cỏ, đứng ở rìa đám đông, nói một câu không to không nhỏ, vừa đủ cho mọi người nghe:

– Ba ngày công của mười hai người. Một cái chân của thằng Lượm. Một giếng nước mặn. Nghe con dở người thì được rứa đó.

Đêm hôm ấy, tôi ngồi một mình ngoài hiên đến tận khuya. Tôi đã sai. Ông thợ khoan giếng ở quê ngoại tôi không sai, nhưng ông ấy khoan bằng máy, khoan xuống tận tầng đá, có ống nhựa chống vách. Còn đây là một làng cát sát biển, đào bằng tay, chống bằng gỗ. Tôi mang một câu nói từ thế giới kia sang đây như mang một cái chìa khóa đến một cái nhà không có ổ khóa.

Trước đó, lúc chập tối, tôi đã ôm một rổ khoai sang nhà ông lý. Ông lý không ra. Thằng Lượm nằm trên chõng ngoài hiên, cái chân bó lá thầu dầu, nhìn tôi đặt rổ khoai xuống.

– O Đậu đừng có buồn. – Nó nói, giọng còn khàn vì khóc. – Tui đứng dưới đó là tui muốn đứng. Ai biểu tui tham, muốn là người đầu tiên thấy nước.

– Chân mi có đau lắm không?

– Đau. – Nó nhăn mặt, rồi cười. – Nhưng mai mốt hết đau, o đào cái chi nữa thì kêu tui.

Tôi về, không nói được với ai câu nào.

Có tiếng gậy gõ trên cát. Mệ Lành chống gậy đi ra, ngồi xuống bên cạnh tôi.

– Ông Bảy Nghêu sang đây lúc nãy. – Bà nói. – Ông nói mi đào sai chỗ.

– Con biết rồi, mệ.

– Mi không biết. – Mệ Lành nói. – Mi biết mi sai, chứ mi không biết sai làm răng. Mai mi sang mà hỏi ông Bảy Nghêu.

Sáng hôm sau, tôi sang nhà ông Bảy Nghêu. Ông đang ngồi vá lưới ở hiên, thấy tôi thì không ngẩng lên.

– Ông Bảy, con xin ông chỉ cho con.

Ông Bảy Nghêu kéo một mũi lưới, thắt nút, rồi mới nói.

– Ở làng cát ni, nước ngọt nằm ở trên, nước mặn nằm ở dưới. – Ông nói. – Nước mưa rơi xuống đồi cát, thấm xuống, nằm trên mặt nước biển ngấm vào đất như dầu nổi trên nước. Mi đào sâu quá thì chọc thủng lớp nước ngọt, chạm vô nước biển.

Tôi nghe mà lặng người. Ông lão này không đọc một chữ nào về thủy văn, chưa từng thấy một cái máy khoan. Nhưng ông biết điều đó, như ông biết con cá nào ăn mồi lúc nào.

– Rứa thì phải đào ở mô, ông?

– Đào ở chân đồi cát cao nhất. Đồi cao thì giữ nhiều nước mưa nhất. Đào cạn thôi, cạn bằng đầu người, nhưng đào rộng, rộng như cái ao nhỏ. Nước ngọt rỉ ra từ vách cát, chậm thôi, nhưng ngọt. Ông bà mình gọi là đào bàu. Năm hạn lớn đời ông nội tau, làng ni sống nhờ mấy cái bàu đào ở chân cồn Ông Đùng.

– Sao lâu ni không ai đào nữa, ông?

– Vì có giếng làng. – Ông Bảy Nghêu nói. – Có giếng thì ai nhớ tới bàu.

Chiều hôm ấy, tôi đi từng nhà. Tôi không đi một mình. Ông Bảy Nghêu đi cùng tôi. Ông nói, tôi đứng sau. Ông lý trưởng nghe ông Bảy Nghêu, gật đầu. Hai ngày sau, cả làng ra chân cồn Ông Đùng đào bàu. Đào cạn, đào rộng, như ông Bảy Nghêu chỉ. Thằng Lượm ngồi trên một tấm phên ở bờ, cái chân bó lá, chỉ trỏ cho người ta đào chỗ này chỗ kia.

Đến chiều ngày thứ hai, nước bắt đầu rỉ ra từ vách cát. Chậm, từng giọt, rồi từng dòng nhỏ, rồi đọng lại thành một vũng nước trong ở đáy bàu. Ông lý trưởng là người nếm đầu tiên. Ông không phun ra.

– Ngọt. – Ông nói, rồi uống thêm một ngụm. – Ngọt thiệt.

Người ta reo lên. Đám trẻ con nhảy xuống bàu té nước. Ông Bảy Nghêu ngồi trên bờ cát, nhai trầu, không cười, nhưng mắt ông nheo lại như đang cười.

Không ai nhắc lại cái giếng nước mặn. Nhưng tôi nhớ. Từ hôm ấy, mỗi khi định nói một câu bắt đầu bằng "ở chỗ con người ta làm thế này", tôi dừng lại, đi hỏi ông Bảy Nghêu trước.

Cuối tháng Tám, trận gió cát lớn nhất mùa đổ về Bàu Nhum.

Gió thổi suốt một đêm. Cát quất vào mái tranh như mưa đá, rít lên qua khe vách. Thằng Mót ôm chặt lấy tôi trên phản. Mệ Lành ngồi bên khung cửi, không dệt, chỉ ngồi đó, một tay đặt lên cái lược tre, như sợ gió mang nó đi.

Sáng hôm sau, gió tắt. Tôi chạy ra ruộng khoai.

Phía bên ngoài hàng dứa dại, cát phủ trắng xóa, dày đến đầu gối. Những luống khoai phía ấy chìm mất tăm. Nhưng phía bên trong, sau hàng dứa, cát chỉ phủ một lớp mỏng như rắc bột. Những luống khoai vẫn còn đó, lá vẫn xanh, dây vẫn bò. Hàng dứa dại đứng thẳng, gai lởm chởm, những chiếc lá dài cứng như lưỡi kiếm phủ đầy cát trắng. Dưới chân hàng dứa, mấy dây muống biển tôi rải đã bén rễ, bò ra được mấy gang tay, lá xanh bóng.

Tôi đứng đó, ngực phập phồng. Lần này tôi không khóc. Con Đậu cũng không khóc.

Có tiếng chân đi trên cát sau lưng. Bà Hai Cỏ đứng ở đầu ruộng, nhìn hàng dứa, nhìn ruộng khoai phía trong, nhìn đống cát phía ngoài. Ruộng khoai nhà bà ở ngay bên cạnh, không có hàng rào gì, giờ chìm sạch dưới cát.

Bà không nói gì. Bà đứng đó một lúc, rồi quay đi.

Chiều hôm ấy, thằng Mót chạy về, mặt hớn hở.

– Chị ơi, bà Hai Cỏ sai thằng cháu sang hỏi em dứa gai đào ở chỗ mô!

Nhưng ngay tối hôm ấy, lái Kình đánh xe bò sang Bàu Nhum.

Ông dừng xe ở sân đình, gõ cái mõ tre treo ở đầu xe, như mọi lần ông đến mua vải. Đàn bà trong làng ôm vải ra. Lái Kình đứng trên xe, tay cầm cây thước, nụ cười rộng như mọi lần, hai cái lỗ răng gãy đen ngòm.

– Năm ni hạn. – Ông nói to. – Đường lên phủ khô cháy, bò đi không nổi. Người ta trên phủ cũng hạn, không ai mua vải. Tau mua thì mua, không mua thì thôi. Tấm vải gai một tiền rưỡi.

Đám đàn bà xôn xao. Một tiền rưỡi. Bà cụ bán nước chè lẩm bẩm: năm ngày dệt, một tiền rưỡi. Bà Hai Cỏ ôm hai tấm vải, mặt đỏ gay, nhưng không ai cãi. Không ai có chỗ nào khác để bán.

Tôi đứng ở rìa sân đình, nhìn những người đàn bà lần lượt đưa vải lên xe bò, nhận về một nắm tiền kẽm ít hơn mọi lần.

Ở cái thế giới của tôi, khi một sàn bán hàng duy nhất tăng phí, người bán chỉ có hai cách: chịu, hoặc mở một chỗ bán khác.

– Mót, – tôi nói nhỏ. – Cái ngã ba có cây trôm to, chỗ đường Bàu Nhum gặp đường Hà Tân với đường lên các làng trên nguồn, mỗi ngày có bao nhiêu người đi qua?

— Hết chương 5 —

Mục lục Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành

  1. 1Mâm trầu bị trả về10 phút đọc
  2. 2Cát lấp luống khoai9 phút đọc
  3. 3Mệ biết9 phút đọc
  4. 4Khung cửi cầm ở nhà lái Kình9 phút đọc
  5. 5Giếng mặn9 phút đọc
  6. 6Phiên đổi hàng dưới gốc trôm9 phút đọc
  7. 7Thước đồng ở chợ phủ9 phút đọc
  8. 8Năm đêm khung cửi không nghỉ9 phút đọc
  9. 9Răng lược gãy11 phút đọc

Về truyện này

Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →