AI Truyện
Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Năm đêm khung cửi không nghỉ

Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành · Chương 8/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Năm đêm khung cửi không nghỉ

– Năm ngày. – Bà Hai Cỏ nói. – Cả làng thiếu mười hai tấm. Một khung cửi dệt một tấm mất năm ngày. Mi tính cho tau coi.

Bà đứng giữa sân nhà tôi, lúc trời đã tối, sau lưng là gần hai chục người đàn bà làng Bàu Nhum. Có người cầm đèn dầu, có người bế con, có người còn chưa kịp rửa tay sau bữa cơm chiều. Họ không đến vì tôi gọi. Họ đến vì cái tin thầy Lưu thu thuế ở gốc trôm đã chạy khắp làng, và vì không ai biết phải làm gì nữa.

Mệ Lành ngồi ở hiên, sau lưng là cái khung cửi. Bà không nói gì.

Tôi đứng trước mặt bà Hai Cỏ. Tôi đã tính cả đêm qua, trên đường từ đèo Lò Vôi về, khi anh Tràm cõng thằng Mót ngủ gục trên lưng.

– Một khung cửi một người dệt thì năm ngày một tấm. – Tôi nói. – Vì người dệt phải ăn, phải ngủ, phải đi gánh nước, phải xe sợi, phải cuộn suốt, phải nấu cơm. Một ngày người ta ngồi khung được chừng ba canh giờ là nhiều.

Đám đàn bà nhìn nhau. Đúng thế. Không ai cãi.

– Làng mình có chín cái khung cửi. – Tôi nói tiếp. – Mười hai tấm vải, chín cái khung. Mình để khung cửi không bao giờ nghỉ, ngày cũng dệt, đêm cũng dệt, người này mỏi thì người kia vào ngồi thay. Người xe sợi thì chỉ xe sợi, người cuộn suốt thì chỉ cuộn suốt, người nấu cơm thì nấu cơm cho cả làng. Rứa thì một cái khung một ngày một đêm dệt được nửa tấm. Năm ngày, chín cái khung, hai mươi hai tấm.

Bà Hai Cỏ trợn mắt.

– Mi nói như nói chuyện đong gạo.

– Thì đong gạo, bà. – Tôi nói. – Chỉ là đong bằng tay người.

Ở xưởng may tôi từng lấy hàng ở Đà Nẵng, người ta làm ba ca, máy không bao giờ tắt. Tôi chưa bao giờ nghĩ cái cách làm việc ấy sẽ có ngày tôi mang về một làng cát với chín cái khung cửi gỗ.

Bà Hai Cỏ quay sang nhìn mệ Lành. Lần đầu tiên tôi thấy hai bà già nhìn thẳng vào mặt nhau.

– Mụ Lành. – Bà Hai Cỏ nói. – Con cháu mụ nói được thì mụ có làm được không?

Mệ Lành chống gậy đứng dậy.

– Tau ngồi khung từ chừ tới sáng. – Bà nói. – Mi dám ngồi thì mi ngồi.

Năm ngày năm đêm sau đó, làng Bàu Nhum không có tiếng gà gáy, chỉ có tiếng khung cửi.

Chín cái khung cửi kêu cạch cạch suốt ngày đêm. Ban ngày người ta khiêng ra hiên cho sáng, ban đêm khiêng vào nhà, thắp đèn dầu lạc. Đàn bà chia làm ba tốp, mỗi tốp ngồi khung một canh rưỡi, rồi đứng dậy, người khác vào ngồi thay, sợi không đứt, thoi không dừng. Những người già mắt kém không ngồi khung được thì ngồi xe sợi. Đám con gái mười hai, mười ba tuổi thì cuộn suốt. Bà cụ bán nước chè nấu một nồi cháo khoai to ở sân đình, ai đói thì ăn, ai mỏi thì nằm ngả lưng trên mấy tấm chiếu trải ngay sân đình, ngủ một giấc rồi dậy làm tiếp.

Ông Thuận, bọ của con Đậu, bảo thằng Mót khiêng cái chiếu của ông ra hiên. Ông ngồi tựa lưng vào cột, cái chân nẹp tre duỗi thẳng, hai tay cuộn sợi vào suốt. Ông cuộn nhanh và đều đến mức đám con gái cuộn suốt cứ chốc chốc lại nhìn sang, rồi lén bắt chước cách ông xoay cổ tay. Đến ngày thứ hai, ông cuộn suốt cho ba cái khung một lúc.

Đàn ông thì đi gánh nước ở cái bàu chân cồn Ông Đùng, đi ngâm gai, đi đốn củi. Thằng Lượm cái chân chưa lành, ngồi một chỗ tước gai, tay thoăn thoắt. Ông lý trưởng đi từ nhà này sang nhà khác, đếm sợi, đếm suốt, ghi lên vách bằng than: nhà này xong nửa tấm, nhà kia xong một tấm.

Đêm thứ hai, có hai người từ Hà Tân sang. Người thứ nhất là anh Tràm, vác theo cái hộp đồ nghề. Anh đi từ nhà này sang nhà khác, khung cửi nào lỏng chốt thì đóng lại chốt, bàn đạp nào kêu thì chêm, thoi nào sứt thì gọt. Anh làm suốt đêm, không ai trả công, cũng không ai mời anh ăn, vì anh không chịu ngồi xuống.

Người thứ hai là Phúc, con trai ông Hương. Anh ta gánh sang hai bó sợi gai đã xe sẵn, đặt ở cổng nhà tôi, rồi đứng đó, không dám bước vào. Tôi ra cổng. Phúc không nhìn tôi.

– Sợi của mạ anh xe. – Anh ta nói. – Mạ anh bảo nhà mình nợ nhà Đậu một lời xin lỗi, mà lời xin lỗi thì không dệt được thành vải.

Tôi nhận hai bó sợi. Lần này cái thân xác của con Đậu không run nữa. Nó chỉ thở ra một hơi, nhẹ như người đặt gánh xuống.

– Cảm ơn anh Phúc. Cảm ơn bác gái.

Phúc gật đầu, quay đi. Anh Tràm đứng ở hiên nhà bên cạnh, cái đục trong tay, nhìn theo cho đến khi bóng Phúc khuất ngoài ngõ, rồi mới cúi xuống làm tiếp.

Tôi ngồi khung cửi của nhà.

Đêm đầu tiên, tôi ngồi thay mệ Lành lúc nửa đêm. Hai bàn tay tôi cầm con thoi, hai chân tôi đặt lên bàn đạp, và tôi không biết làm gì nữa. Mấy tháng nay tôi đã xe sợi, cuộn suốt, đã ngồi xem mệ dệt hàng trăm lần. Nhưng ngồi vào khung cửi thì khác. Chân đạp chưa đều thì sợi dọc tách không hết, thoi ném qua mắc vào sợi. Dập lược không đủ mạnh thì sợi ngang lỏng, vải thưa. Dập mạnh quá thì đứt sợi dọc.

Tôi dệt được ba gang tay vải trong một canh giờ. Ba gang tay méo mó, chỗ dày chỗ thưa, như một cái bánh tráng phơi lỗ chỗ.

Mệ Lành nằm trên phản, không ngủ. Bà nghe tiếng khung cửi, rồi nói vọng ra:

– Mi đừng có nghĩ. Để cho cái tay con Đậu nó làm.

Tôi nhắm mắt lại. Tôi thôi nghĩ đến số sợi, số đường dập, số thước. Tôi để cho hai bàn chân tự đạp, hai bàn tay tự ném thoi, tự dập lược. Lúc đầu vẫn vấp. Rồi bớt vấp. Rồi có một lúc, tôi không biết là lúc nào, tiếng khung cửi dưới tay tôi bắt đầu đều đặn, cạch, cạch, cạch, không nhanh như tiếng khung cửi của mệ, nhưng đều.

Gần sáng, tôi mở mắt ra nhìn tấm vải. Đoạn vải tôi dệt sau cùng đã phẳng, đã đều, đã gần giống vải của mệ. Và ở giữa khổ vải, chạy dọc suốt đoạn tôi vừa dệt, có một đường sọc mảnh, mảnh như sợi tóc, chỗ hai sợi dọc nằm chung một khe.

Đêm thứ ba, lúc trời đã khuya lắm, tôi ra sân đình lấy cháo cho mệ. Ở góc sân, dưới ánh đèn dầu, bà Hai Cỏ đang ngồi một mình, cầm bát cháo nguội, không ăn. Tôi định đi qua, nhưng bà gọi.

– Con Đậu. Lại đây.

Tôi ngồi xuống bên cạnh bà.

– Cái lược nhà mụ Lành, – bà nói, không nhìn tôi, – cái răng gãy đó, mụ Lành có nói với mi tại răng gãy không?

– Dạ không. Mệ chỉ nói gãy từ năm mệ về làm dâu.

Bà Hai Cỏ cười, một tiếng cười ngắn, khàn.

– Tau làm gãy. – Bà nói. – Năm đó tau mười sáu, mụ Lành mười tám, mới về làm dâu làng ni. Mụ dệt giỏi, cả làng ai cũng khen. Tau ghen. Một bữa tau sang ngồi khung chung với mụ, tau giật lược mạnh quá, cố tình, gãy một cái răng. Tau nghĩ mụ sẽ phải làm lược mới, mất cả tháng, cho bớt khen.

Bà ngừng một lúc.

– Mụ không làm lược mới. Mụ để nguyên cái răng gãy mà dệt. Năm mươi năm, tấm vải mô của mụ cũng có cái sọc đó. Người ta mua vải của mụ, nhìn cái sọc là biết vải mụ Lành. Cái tau làm hỏng, mụ biến thành cái tên của mụ.

Tôi không nói được gì.

– Bốn mươi năm tau không nói với mụ một câu. – Bà Hai Cỏ nói. – Không phải vì tau ghét mụ. Vì tau xấu hổ.

Bà đặt bát cháo xuống, đứng dậy, đi về phía khung cửi nhà bà. Tôi cầm bát cháo của mệ, đi về nhà. Lúc tôi bước vào, mệ Lành đang nằm nghiêng trên phản, mặt quay vào vách. Tôi kể lại cho mệ nghe.

Mệ nằm im rất lâu. Rồi bà nói, giọng như sắp ngủ:

– Tau biết từ năm mươi năm trước rồi. Tau đợi hắn nói.

Sáng ngày thứ năm, ông lý trưởng đứng giữa sân đình, đếm. Hai mươi tấm vải, xếp chồng trên mấy cái chiếu. Mười hai tấm đủ cho cả làng nộp thuế. Tám tấm còn lại, ông lý bảo để dành, phòng thầy Lưu lại bảo thiếu.

– Thầy Lưu bảo thiếu thì sao, o Đậu? – Ông lý hỏi. – Thầy đo bằng cây thước của thầy, tấm nào thầy cũng bảo thiếu thì hai mươi tấm cũng như không.

Tôi lấy từ trong bọc ra thanh tre anh Tràm đã cắt ở cột đá chợ phủ, và cây thước gỗ mít của bọ.

– Lần ni mình không đo bằng một cây thước, ông lý. – Tôi nói. – Mình đo bằng bốn cây.

Chiều hôm trước, thằng Mót đã chạy lên nguồn, tìm bà già hay đổi gạo ở gốc trôm. Bà già có một cây thước gỗ, mua ở chợ phủ để đo vải mỗi lần xuống đổi. Bà hứa sáng mồng một sẽ xuống, mang theo cả người làng bà. Ông Bảy Nghêu cũng có một cây thước đo lưới, ông cụ thề rằng ông đã đo nó ở cột đá chợ phủ hồi còn đi buôn.

Còn cây thước thứ tư, tôi không cần phải nhờ ai mang đến. Nó sẽ tự đến, trên cái xe bò hai con bò vàng, cùng với những tấm vải buộc lạt đỏ.

Sáng mồng một tháng Mười, trời trong vắt, gió Lào đã tắt hẳn. Gốc trôm ngã ba đông chưa từng thấy. Người làng Bàu Nhum đứng chật cả một khoảng đất dưới tán cây. Người trên nguồn xuống, gánh gạo, gánh mật, đứng thành một đám riêng. Người làng Hà Tân đi chợ ngang qua, thấy đông thì dừng lại.

Rồi có tiếng mõ.

Trên con đường cát từ Hà Tân, thầy Lưu đi trước, che cái dù giấy dầu, hai người lính cầm roi mây đi bên cạnh, một người khiêng cái hòm gỗ có chữ "thuế". Đi sau cùng là cái xe bò hai con bò vàng của lái Kình, chở đầy những tấm vải cuộn tròn buộc lạt đỏ.

— Hết chương 8 —

Mục lục Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành

  1. 1Mâm trầu bị trả về10 phút đọc
  2. 2Cát lấp luống khoai9 phút đọc
  3. 3Mệ biết9 phút đọc
  4. 4Khung cửi cầm ở nhà lái Kình9 phút đọc
  5. 5Giếng mặn9 phút đọc
  6. 6Phiên đổi hàng dưới gốc trôm9 phút đọc
  7. 7Thước đồng ở chợ phủ9 phút đọc
  8. 8Năm đêm khung cửi không nghỉ9 phút đọc
  9. 9Răng lược gãy11 phút đọc

Về truyện này

Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →