AI Truyện
Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Cát lấp luống khoai

Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành · Chương 2/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 2: Cát lấp luống khoai

Gió Lào thổi về Bàu Nhum vào một buổi sáng cuối tháng Sáu, và đến trưa thì một nửa ruộng khoai nhà tôi đã nằm dưới cát.

Tôi gọi là "ruộng" vì ký ức của con Đậu gọi thế. Thật ra đó là một dải đất cát pha nằm ở trũng giữa hai đồi cát, rộng chừng bốn sào, cát vàng lẫn ít đất đen, mấy chục luống khoai lang dây bò xanh mướt. Cả nhà sống nhờ dải đất ấy. Khoai là cơm, lá khoai là rau, dây khoai là cám lợn, có năm nào dư thì gánh ra chợ đổi muối.

Gió Lào không giống bất kỳ cơn gió nào tôi từng biết. Ở Đà Nẵng, tôi biết gió mùa đông bắc lạnh tê tái, tôi biết gió biển mặn mòi chiều hè. Gió Lào thì nóng như hơi thở của một cái lò bánh mì vừa mở nắp. Nó thổi từ phía tây, vượt qua dãy núi, đi qua những cánh đồng cát, và mang theo cát. Cát bay thành từng đợt, từng đợt, như sóng, rít lên ràn rạt trên mái tranh, quất vào mặt rát như ai cầm nắm muối hột ném.

Tôi đứng ở đầu ruộng khoai, lấy cái nón lá che mặt, nhìn những luống khoai ở phía tây chìm dần dưới cát. Cát lấp gốc, lấp lá, rồi lấp luôn cả dây. Chỗ nào còn thò lên một chút lá xanh thì lá đã héo quắt vì hơi nóng.

– Năm mô cũng rứa, chị. – Thằng Mót đứng bên cạnh tôi, nói giọng như người lớn. – Gió Lào thổi một tháng, cát lấp một nửa ruộng. Gió dừng thì mình đi bới cát ra, cây mô còn sống thì sống.

– Năm nào cũng mất một nửa à?

– Có năm mất hết.

Tôi đứng nhìn dải đất ấy, và tôi nhớ đến những rừng phi lao.

Hồi bé tôi về quê ngoại ở Quảng Bình, chiều nào cũng chạy ra bãi biển chơi. Bãi biển ở đấy có những rừng phi lao xanh rì chạy dài tít tắp dọc bờ, cây nào cũng cao vút, lá kim mảnh rủ xuống, gió thổi qua nghe vi vu như tiếng sáo. Ngoại tôi bảo: ngày xưa ở đây cát bay lấp hết ruộng vườn, người ta trồng phi lao chắn cát, giờ mới có đất mà trồng khoai trồng lạc.

Tôi nhớ thế. Tôi nhớ cả cảnh những cây phi lao con được cắm thành hàng trên cồn cát, mỗi cây cao chỉ bằng đầu gối, có cái cọc tre buộc kèm cho khỏi đổ.

– Mót, làng mình có cây phi lao không?

Thằng Mót nhìn tôi.

– Cây chi, chị?

– Phi lao. Cây cao, lá nhỏ như kim, mọc ở bãi cát.

Thằng Mót nghĩ một lúc, rồi lắc đầu.

– Em không biết cây đó. Chị nằm mơ thấy à?

Chiều hôm ấy tôi đi hỏi khắp làng. Tôi hỏi ông Bảy Nghêu đi biển bốn mươi năm. Tôi hỏi bà cụ bán nước chè ở đầu làng. Tôi hỏi cả mấy người lái buôn đi ngang qua làng. Không ai biết cây phi lao. Không ai từng thấy một cây gì cao vút lá kim mọc trên cát trắng.

Đêm ấy tôi nằm trên phản, nhìn lên mái tranh thủng, và hiểu ra một điều mà tôi đã không chịu hiểu từ hôm tỉnh dậy. Thế giới này không phải là quá khứ của thế giới tôi. Nó giống, nhưng không phải. Có những thứ tôi biết, ở đây không tồn tại. Cái rừng phi lao của ngoại tôi, có lẽ ở thế giới tôi người ta đã mang cây giống từ đâu đó về, vào một thời nào đó. Ở đây, chưa ai mang về cả.

Tôi biết cách chắn cát. Tôi chỉ không có cây để chắn.

Sáng hôm sau, ông Bảy Nghêu đi ngang qua ngõ, thấy tôi ngồi thẫn thờ ở đầu ruộng khoai, thì dừng lại.

– Con Đậu hỏi cây chi chắn cát hôm qua đó hả?

– Dạ.

Ông Bảy Nghêu chống cây sào đẩy thuyền xuống cát, nhìn ra những đồi cát phía tây.

– Cái cây mi nói tau không biết. Nhưng mi ra cồn Ông Đùng mà coi. – Ông nói. – Chỗ mô có dứa dại mọc thì chỗ đó cát đứng. Chỗ mô có muống biển bò thì chỗ đó cát không chạy. Ông bà mình biết từ đời nảo đời nao rồi. Chỉ là không ai rảnh mà đi trồng.

Tôi theo thằng Mót ra cồn Ông Đùng. Đó là một cồn cát cao ở phía tây làng, gió Lào thổi thẳng vào. Mặt cồn trắng xóa, phẳng lì như mặt bột. Nhưng ở chân cồn, có một đám dứa dại mọc thành bụi, lá dài cứng như lưỡi kiếm, mép lá đầy gai, những cái rễ phụ chống xuống cát như chân nhện. Sau bụi dứa ấy, cát nằm im. Có cả cỏ mọc, có cả một vạt muống biển bò lan, lá xanh bóng hình móng ngựa, hoa tím nhạt.

Tôi đứng nhìn cho đến khi thằng Mót kéo áo. Rồi tôi quay sang thằng Mót.

– Mót, mình trồng dứa dại.

– Trồng dứa gai? – Thằng Mót trợn mắt. – Chị ơi, dứa gai có ai trồng mô. Mọc đầy ngoài cồn đó, người ta còn chặt bỏ cho khỏi vướng.

– Thì mình đi đào cây con về trồng.

Ba tuần sau đó, tôi hiểu vì sao không ai trồng dứa dại.

Lá dứa dại có gai hai bên mép, gai móc ngược như lưỡi câu. Đào một bụi cây con ra khỏi cát là tay tôi rách thêm mấy vết, xước ngang xước dọc. Cát thì nóng bỏng, đến trưa không đứng nổi chân trần. Cây con đào lên rồi phải trồng ngay, phải tưới nước, mà nước thì phải gánh từ cái bàu dưới chân đồi, mỗi chuyến đi về mất cả nửa canh giờ.

Tôi chưa bao giờ làm một ngày lao động chân tay nào trong đời. Ở Đà Nẵng, việc nặng nhất tôi làm là bê mấy thùng hàng ra bưu cục. Hai bàn tay của con Đậu thì chai sạn, quen việc, nhưng cái đầu bên trong thì không. Ngày đầu tiên tôi đào được mười bảy bụi, trồng được mười hai, tối về nằm vật ra phản, không nhấc nổi cánh tay. Thằng Mót ngồi bên cạnh, lấy lá khoai giã nát đắp lên những vết xước trên tay tôi.

– Chị Đậu ngày trước không có yếu như ri. – Nó nói. – Ngày trước chị gánh nước một lúc mười chuyến.

Tôi không trả lời. Tôi không biết phải trả lời thế nào.

Có một buổi trưa, gió Lào thổi rát đến mức tôi phải bỏ dở việc, chạy về nhà trốn nắng. Ông Thuận nằm trên chiếu, nghe tiếng chân tôi thì quay mặt ra. Ông ít nói, từ hôm tôi tỉnh dậy chưa nói với tôi được mười câu.

– Con trồng dứa gai đó hả?

– Dạ.

– Hồi bọ còn nhỏ, ông nội con cũng trồng một hàng ở mép ruộng. – Ông nói. – Trồng được hai năm thì chết, vì không ai tưới. Ông mất rồi thì không ai trồng lại nữa.

Ông im một lúc, rồi nói thêm, giọng nhỏ hơn:

– Con tưới cho đều. Đừng để nó chết như hàng của ông.

Người làng Bàu Nhum đi ngang qua ruộng khoai, nhìn tôi trồng dứa dại, thì cười.

Bà Hai Cỏ là người cười to nhất. Bà ngoài sáu mươi, to béo, tiếng nói oang oang, là người dệt giỏi nhất làng sau mệ Lành, và nhà bà có hai khung cửi, nhiều nhất làng. Đám đàn bà dệt vải trong làng đều nghe bà như nghe bà trưởng tộc. Bà đứng trên bờ cát, chống nạnh, gọi to cho cả xóm nghe:

– Con Đậu nhà mệ Lành bị trả lễ hóa dở người rồi bà con ơi! Trồng dứa gai làm hàng rào cho cát! Mai chắc trồng cả xương rồng làm hàng rào cho gió!

Người ta cười ồ. Thằng Mót đỏ mặt, cúi gằm. Tôi vẫn đào.

Trong những ngày đào dứa dại, tôi để ý một chuyện khác. Đàn bà làng Bàu Nhum nhà nào cũng có khung cửi, nhà nào cũng dệt vải. Vải dệt ra, ngoài phần để nộp thuế, để may mặc, phần còn lại đều bán cho lái Kình. Lái Kình đi xe bò từ làng này sang làng khác, mỗi tháng ghé Bàu Nhum hai lần, mua vải, bán muối, bán dầu, bán kim chỉ. Lái Kình mua một tấm vải gai hai mươi mốt thước giá hai tiền.

– Hai tiền một tấm? – Tôi hỏi bà cụ bán nước chè. – Mất bao lâu thì dệt xong một tấm, mệ?

– Năm ngày. – Bà cụ nói. – Năm ngày, chưa kể kéo sợi.

Năm ngày dệt, chưa kể kéo sợi, chưa kể trồng gai, ngâm gai, tước gai. Bán được hai tiền. Tôi nhẩm tính, rồi tôi hỏi tiếp.

– Ở chợ phủ, một tấm bán được bao nhiêu?

Bà cụ nhìn tôi lạ lẫm.

– Ai mà biết. Chợ phủ cách đây hai ngày đường. Có ai đi mô mà biết.

Tôi im lặng. Bảy năm bán hàng, tôi biết một điều chắc như đinh đóng cột: khi chỉ có một người mua, người bán bao giờ cũng thua. Lái Kình không cần phải ép giá. Ông ta chỉ cần là người duy nhất đến.

Gió Lào thổi suốt tháng Bảy. Đến cuối tháng, tôi đã trồng được một hàng dứa dại dài chừng ba chục bước chân, chạy dọc theo mép phía tây của ruộng khoai. Hàng dứa còn thưa, cây còn nhỏ, chỗ cao chỗ thấp, nhìn như hàm răng sứt của một ông già. Trước hàng dứa, tôi rải dây muống biển xin ở cồn Ông Đùng, lấy cát lấp nhẹ lên từng đoạn. Không biết nó có sống được không.

Một buổi chiều, mệ Lành chống gậy ra ruộng khoai. Mắt bà mờ, bà phải đứng sát lắm mới nhìn rõ hàng dứa dại. Bà đứng nhìn một lúc, rồi đưa tay sờ lên một chiếc lá dứa, cẩn thận tránh mép gai.

– Ai dạy mi cái ni?

– Ông Bảy Nghêu, mệ.

– Ông Bảy Nghêu nói thì ai cũng nghe. Nhưng không ai làm. – Mệ Lành nói. – Mi làm.

Bà không khen, không chê. Bà quay lưng đi về nhà.

Tối hôm ấy nhà lại ăn khoai luộc. Tôi cầm đôi đũa, gắp một miếng khoai chấm muối mè. Mệ Lành ngồi đối diện tôi, bên ngọn đèn dầu lạc. Bà không ăn. Bà nhìn tôi, đôi mắt mờ đục nheo lại, chăm chú nhìn tay tôi.

Rồi bà đặt bát xuống, nói một câu bằng giọng rất nhỏ, nhỏ đến mức thằng Mót ngồi bên cạnh không nghe thấy:

– Con Đậu nhà tau thuận tay trái. Từ bé đến lớn, nó cầm đũa tay trái, cầm thoi tay trái. Mi cầm đũa tay mặt.

— Hết chương 2 —

Mục lục Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành

  1. 1Mâm trầu bị trả về10 phút đọc
  2. 2Cát lấp luống khoai9 phút đọc
  3. 3Mệ biết9 phút đọc
  4. 4Khung cửi cầm ở nhà lái Kình9 phút đọc
  5. 5Giếng mặn9 phút đọc
  6. 6Phiên đổi hàng dưới gốc trôm9 phút đọc
  7. 7Thước đồng ở chợ phủ9 phút đọc
  8. 8Năm đêm khung cửi không nghỉ9 phút đọc
  9. 9Răng lược gãy11 phút đọc

Về truyện này

Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →