Chương 7: Thước đồng ở chợ phủ
Tôi quay lại. Tấm vải có đường sọc vẫn còn trong tay tôi, giở ra một đoạn.
Bảy năm bán hàng, tôi đã gặp đủ loại khách. Khách bom hàng, khách đòi hoàn tiền, khách nhắn tin chửi lúc ba giờ sáng. Tôi học được một điều: khi bị bắt quả tang, đừng chối, cũng đừng nhận. Hãy hỏi một câu khác.
– Ông Kình, – tôi nói. – Vải ni ông mua của nhà mô mà dệt khéo rứa? Con muốn học cách xếp vải cho gọn như ông.
Lái Kình đứng ở cửa kho, ngược sáng, tôi không nhìn rõ mặt ông. Ông đứng im một lúc. Rồi ông bước vào, cầm lấy tấm vải trong tay tôi, cuộn lại, buộc lạt.
– Vải thuế. – Ông nói. Giọng vẫn vui, nhưng chậm hơn. – Phủ gửi tau chở lên kho phủ giùm, vì tau có xe bò. Mi đừng đụng vô, mất một tấm là tau đi tù.
– Dạ, con không biết. Con xin lỗi ông.
Ông đặt tấm vải lại lên chồng, rồi quay sang hai tấm vải tôi mang tới. Ông lấy cây thước của ông ra, cây thước gỗ thường, không bịt đồng, đo từng tấm. Tôi đứng nhìn, đếm theo ông.
– Hai mươi mốt. – Ông nói. – Đủ. Tấm thứ hai cũng đủ. Mệ Lành dệt thì không bao giờ thiếu.
Tôi gật đầu, cảm ơn, rồi đi ra. Tôi đi thật chậm cho đến khi khuất cổng nhà lái Kình. Rồi tôi chạy.
Tôi chạy một mạch về Bàu Nhum. Về đến nhà, tôi lục trong góc buồng, lấy ra cây thước của bọ con Đậu, cây thước gỗ mít mua ở chợ phủ từ hồi ông mới cưới, đã lên nước đen bóng. Tôi đo hai tấm vải mệ Lành vừa dệt xong, chưa mang đi đâu. Hai mươi mốt thước, dư một chút.
Thước của bọ mua ở chợ phủ. Thước của lái Kình mua ở chợ phủ. Hai cây thước nói giống nhau.
Chỉ có cây thước hai đầu bịt đồng của thầy Lưu là nói khác.
Đêm hôm ấy tôi kể cho mệ Lành nghe. Mệ ngồi im, hai tay đặt trên khung cửi.
– Mi biết rồi thì mi làm chi? – Bà hỏi. – Mi chạy lên phủ, đứng trước cổng phủ mà kêu thầy Lưu ăn cắp vải thuế? Mi là con gái nhà quê, bị trả lễ, nhà nợ thuế. Thầy Lưu là thơ lại, đội khăn, mặc áo dài. Quan nghe ai?
– Con không kêu. – Tôi nói. – Con chỉ đo.
– Đo bằng chi?
– Bằng cái thước của phủ, mệ. Cái thước thật. Ở chợ phủ có không?
Mệ Lành nghĩ một lúc.
– Có. Hồi bọ mi còn đi buôn, bọ mi kể ở sân đình chợ phủ có một cái cột đá, trên cột có gắn một cây thước đồng. Ai mua bán vải mà cãi nhau dài ngắn thì mang ra cột đá mà đo. Người ta gọi là thước công.
Ba hôm sau, tôi lên phủ.
Tôi không đi một mình. Anh Tràm phải mang hai cái bánh xe bò lên giao cho một nhà buôn ở phủ, đi bộ, đẩy một cái xe cút kít. Mệ Lành bảo thằng Mót đi theo tôi, "cho người ta khỏi nói". Ba người đi từ lúc gà gáy, theo con đường cát, rồi đường đất đỏ, rồi đường đá leo lên đèo Lò Vôi.
Đèo Lò Vôi dốc đứng, đá vôi xám trắng lởm chởm hai bên, cây cối lưa thưa, gió thổi ù ù. Anh Tràm đẩy xe cút kít, mồ hôi chảy ròng ròng trên lưng, nhưng không nghỉ. Thằng Mót chạy trước, chạy sau, nhặt đá ném xuống vực nghe tiếng rơi.
Lên đến lưng chừng đèo, anh Tràm dừng lại, chỉ tay về phía một tảng đá lớn bên đường.
– Năm ngoái, lái Kình bị cướp ở chỗ ni. – Anh nói. – Ba thằng nhảy ra từ sau tảng đá, cầm gậy. Lái Kình không chạy, đứng giữ xe bò. Bị đánh gãy hai cái răng mà không buông dây bò.
– Anh có ở đó không?
– Tôi đi sau xe, cách một khúc quanh. Tôi chạy tới thì tụi nó đã lấy được nửa xe vải.
Tôi nhìn anh.
– Anh nói lái Kình không ác.
– Tôi không nói lái Kình ác. – Anh Tràm nói. – Tôi nói tôi không làm lược cho lái Kình.
– Vì răng?
Anh Tràm im lặng một lúc, đẩy xe cút kít lên một đoạn dốc. Rồi anh nói, không nhìn tôi:
– Bọ tôi là thợ Kiến, đóng khung cửi giỏi nhất vùng. Năm năm trước, thầy Lưu về làm thơ lại. Năm đó nhà tôi thiếu thuế vải ba tấm. Năm sau thiếu bốn tấm. Mạ tôi dệt giỏi, mà năm nào thầy Lưu cũng bảo thiếu. Bọ tôi đi mượn vải của lái Kình mà nộp. Lãi chồng lãi. Hai năm sau, lái Kình lấy hết số gỗ lim bọ tôi tích cả đời để đóng khung cửi. Bọ tôi không còn gỗ, không còn nghề, sang năm thì mất.
Anh ngừng lại một lúc.
– Lái Kình không cướp của ai. Ông chỉ cho vay. Ông cho vay đúng lúc người ta không còn đường nào khác.
Đêm ấy, ba người ngủ ở một cái quán nước dưới chân đèo bên kia. Thằng Mót ngủ say trên chõng tre. Tôi ngồi ngoài hiên quán, nhìn lên bầu trời đầy sao. Anh Tràm ngồi cách tôi mấy bước, tay cầm con dao nhỏ, đẽo đẽo một mẩu tre.
Một lúc sau, anh đứng dậy, đi tới, đặt vào tay tôi một cái lược chải tóc nhỏ bằng tre, răng đều tăm tắp, sống lược mài nhẵn bóng.
– Cho o. – Anh nói. – Răng đủ cả, không gãy cái mô.
Tôi cầm cái lược, nhìn anh. Anh quay đi, về chỗ cũ, lại cầm con dao lên đẽo cái gì đó khác, như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Nhưng dưới ánh trăng, tôi thấy hai vành tai anh đỏ ửng.
Chợ phủ Triệu An lớn gấp mười lần chợ Hà Tân. Người đông như kiến, tiếng rao, tiếng mặc cả, tiếng gà vịt kêu, tiếng xe bò lọc cọc. Hàng vải chiếm cả một dãy dài, vải gai, vải bông, lụa tơ tằm, cả những thứ vải in hoa tôi chưa thấy bao giờ.
Tôi đi dọc dãy hàng vải, hỏi giá. Một tấm vải gai hai mươi mốt thước, dệt đều, khổ đủ, bán năm tiền. Tấm nào dệt khéo, có người còn bán sáu tiền.
Năm tiền. Lái Kình mua một tiền rưỡi.
Tôi mang theo một tấm vải mệ Lành dệt để thử giá. Một nhà buôn vải ở đầu dãy, người đàn ông đứng tuổi, mặt gầy, chòm râu dê lơ thơ, giở tấm vải ra, sờ, kéo, rồi giơ lên trước nắng. Ông nhìn thấy đường sọc mảnh ở giữa khổ vải, và ông nhướng mày.
– Vải ni o mua ở mô?
– Dạ, bà nội con dệt.
– Bà nội o? – Ông ngạc nhiên. – Vải có đường sọc ni, mấy năm nay tôi mua của lái Kình bên Triệu An, năm mô cũng có mười mấy tấm. Tấm mô cũng dày, cũng đều, cũng đủ thước. Tôi tưởng lái Kình có xưởng dệt riêng.
Tôi đứng sững.
– Ông đo bằng thước mô, ông?
– Thì đo ở cột đá sân đình, thước công. – Ông nói như đó là chuyện hiển nhiên. – Tấm mô cũng hai mươi mốt thước, dư chút đỉnh. Tôi mua của lái Kình năm tiền một tấm, mấy năm ni chưa tấm mô thiếu.
Những tấm vải có sọc mà thầy Lưu bảo thiếu, tạm giữ, đã đến tay nhà buôn này bằng xe bò của lái Kình, và tấm nào cũng đủ thước.
Ông muốn mua tấm vải tôi mang theo, trả năm tiền. Tôi bán. Năm đồng tiền kẽm nằm trong lòng bàn tay tôi, nặng hơn mọi đồng tiền tôi từng nhận qua tài khoản ngân hàng, vì tôi biết từng sợi gai trong tấm vải ấy đã đi qua mười ngón tay của một bà già mắt mờ. Lúc đưa tiền, ông hỏi tên làng, tên bà nội tôi, và nói nếu bà còn dệt thì cứ mang lên, ông mua hết.
Sân đình chợ phủ ở giữa chợ. Ở góc sân có một cái cột đá vuông cao ngang ngực, mặt trên phẳng, gắn một thanh đồng dài, hai đầu có khắc vạch. Mấy người đàn bà đang đứng quanh cột, mỗi người cầm một đầu tấm vải, đo, cãi nhau, rồi cười. Một ông già ngồi trên cái ghế đẩu cạnh cột, đội khăn, mặc áo dài cũ, tay cầm quạt nan, là người giữ cột thước.
Tôi đặt cây thước của bọ con Đậu lên mặt cột đá, sát cạnh thanh đồng. Hai đầu khớp nhau. Không lệch một mảy.
Tôi lấy từ trong bọc ra một thanh tre thẳng, anh Tràm đã chọn và vót từ hôm trước, dài hơn một thước một chút. Tôi đặt thanh tre lên cột, áp một đầu vào vạch đầu của thanh đồng. Anh Tràm cầm con dao nhỏ, khắc một vạch thật sâu lên thanh tre, đúng chỗ vạch cuối của thanh đồng. Rồi anh cắt thanh tre đúng ở vạch ấy, gọt nhẵn hai đầu.
Ông già giữ cột nhìn chúng tôi làm, nheo mắt.
– Hai đứa làm chi rứa?
– Dạ, con làm một cây thước cho đúng thước công, ông. – Tôi nói. – Ở làng con, người ta cãi nhau dài ngắn hoài.
Ông già gật gù, quạt quạt.
– Thước công thì không ai cãi được. – Ông nói. – Cả phủ ni, mua bán, thu thuế, chỉ có một thước. Ai đo khác thước ni là đo sai.
Tôi cảm ơn ông, cuộn thanh tre vào trong bọc, cùng cây thước của bọ.
Chiều hôm ấy, anh Tràm giao xong bánh xe. Ba người lên đường về ngay, đi suốt đêm, qua đèo Lò Vôi dưới ánh trăng. Thằng Mót mệt quá, anh Tràm cõng nó trên lưng nửa đoạn đường.
Về đến Bàu Nhum thì đã quá trưa ngày hôm sau. Tôi chưa kịp vào nhà thì bà cụ bán nước chè đã chạy ra ngõ, mặt tái mét.
– Đậu ơi! Thầy Lưu vừa cho lính sang báo! – Bà nói, hơi thở dồn dập. – Năm ni thu thuế vải sớm. Năm ngày nữa, ngày mồng một tháng Mười. Mà không thu ở đình làng như mọi năm. Thầy thu ở ngay gốc trôm ngã ba, đúng phiên đổi hàng của mi. Nhà mô thiếu một tấm thì đàn ông nhà đó đi phu đắp thành ba tháng. Thầy nói: để coi cái phiên chợ đó có đẻ ra được vải không.
— Hết chương 7 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không