Chương 1: Mâm trầu bị trả về
Mâm trầu cau người ta bưng trả về đặt ngay ở bậc cửa, buồng cau còn nguyên, lá trầu đã héo quăn mép, và tôi mở mắt ra đúng lúc một bà già tóc bạc trắng đang cúi xuống nhặt từng quả cau rơi lăn lóc trên nền cát.
– Đậu! Đậu tỉnh rồi mệ ơi!
Một thằng bé gầy nhom, đen nhẻm, đầu cạo trọc chỉ chừa một chỏm tóc trước trán, đang lay vai tôi. Tôi nằm trên một cái phản gỗ, người ướt đẫm mồ hôi, đầu đau như có ai lấy chày giã. Mái tranh trên đầu thủng một lỗ, nắng rọi xuống thành một cột sáng trắng xóa, bụi cát bay lơ lửng trong đó như bột.
Lần cuối cùng tôi còn nhớ, tôi đang ngồi livestream bán đầm trong cái phòng trọ mười hai mét vuông ở Đà Nẵng, máy lạnh hỏng ba hôm chưa ai sửa, mồ hôi chảy ròng ròng xuống cổ. Tôi đang giơ một cái đầm voan hoa nhí lên trước điện thoại, nói câu tôi đã nói cả nghìn lần: "Vải này mát lắm mấy chị ơi, chị nào chốt thì để lại số đo." Rồi màn hình tối sầm.
Còn bây giờ thì không có điện thoại, không có đầm voan, không có máy lạnh. Chỉ có một căn nhà tranh vách đất, một bà già, một thằng bé, và một mâm trầu cau bị trả về.
– Con Đậu, – bà già nói, không ngẩng lên, vẫn nhặt cau. – Mi nằm yên đó. Nắng ri mà mi chạy ra ngõ đứng nhìn người ta bưng mâm về, không ngã ra mới lạ.
Bà nói giọng miền Trung, nặng hơn giọng Đà Nẵng của tôi, kéo dài ở cuối câu như tiếng gió thổi qua rặng dương. Kỳ lạ là tôi hiểu hết. Không chỉ hiểu chữ, tôi hiểu cả những gì bà không nói: bà là mệ Lành, bà nội của con bé tên Đậu mà tôi đang nằm trong thân xác. Thằng bé là thằng Mót, em trai Đậu, mười tuổi. Nhà này ở làng Bàu Nhum, một cái làng nằm kẹp giữa biển và những đồi cát trắng mênh mông, thuộc phủ Triệu An.
Và cái mâm trầu kia là của nhà ông Hương Bính làng Hà Tân, nhà mà con Đậu đã được hứa gả từ năm mười sáu tuổi.
– Họ trả lễ vì răng, mệ? – Tôi hỏi. Giọng tôi bật ra cũng kéo dài như giọng bà, tự nhiên như tôi đã nói thế cả đời.
Mệ Lành đặt quả cau cuối cùng vào mâm, chậm rãi đứng dậy, một tay chống lên đầu gối.
– Vì nhà ni nghèo. – Bà nói. – Bọ mi ngã xe bò gãy chân, nằm đó từ tháng Chạp. Khung cửi nhà ni đem cầm cho lái Kình rồi. Thuế vải năm ngoái nộp thiếu ba tấm. Nhà ông Hương sợ cưới mi về thì phải gánh luôn cái nợ thuế của nhà ni. Rứa thôi.
Bà nói "rứa thôi" như nói chuyện trời mưa trời nắng.
Ở góc nhà, sau tấm phên tre, có tiếng một người đàn ông ho khan. Bọ của con Đậu, ông Thuận. Một cái chân quấn nẹp tre, duỗi thẳng trên chiếc chiếu rách. Ông không nói gì, chỉ quay mặt vào vách.
Tôi ngồi dậy. Đầu óc quay cuồng. Tôi hai mươi chín tuổi, bán quần áo trên mạng được bảy năm, nợ thẻ tín dụng mười một triệu, vừa chia tay người yêu ba tháng. Con Đậu thì hai mươi hai, vừa bị trả lễ cưới. Tôi không biết ai trong hai đứa đang thảm hơn.
Thằng Mót bưng tới một gáo dừa đựng nước, đưa sát lên miệng tôi. Nước giếng mát lạnh, hơi lợ, có mùi đất. Tôi uống một hơi hết nửa gáo, rồi cúi xuống nhìn chỗ nước còn lại. Trong cái vòng nước tròn ấy là một khuôn mặt con gái lạ hoắc: da rám nắng, đôi mắt một mí dài, cái cằm nhọn, một nốt ruồi nhỏ ở đuôi lông mày trái. Hai con mắt ấy sưng húp, như đã khóc cả đêm trước khi tôi đến.
– Chị Đậu đừng buồn nữa. – Thằng Mót nói nhỏ. – Thằng Phúc nhà ông Hương xấu hoắc. Em đi bắt cá về nấu canh chua cho chị ăn.
Tôi đưa tay xoa cái đầu trọc lốc của nó. Nó cười, để lộ cái răng cửa mới mọc lởm chởm.
Trên vách nhà, ngay chỗ đối diện với phản, có treo một vật gì đó bằng tre, dài cỡ hơn một sải tay, hẹp như cái thước, có hàng trăm cái răng mảnh chi chít như răng lược. Ký ức của con Đậu gọi tên nó lên trong đầu tôi: cái lược khung cửi. Cái go để dập sợi ngang cho chặt khi dệt.
Ở gần giữa cái lược, có một cái răng bị gãy, chỉ còn một mẩu cụt ngắn.
– Mệ, cái lược đó…
– Của tau. – Mệ Lành nói ngay. – Lái Kình lấy cái khung, tau không cho lấy cái lược. Khung là của nhà, lược là của tau, tau mang từ nhà mạ tau về làm dâu.
– Lược gãy một răng, mệ.
Mệ Lành quay lại nhìn tôi. Đôi mắt bà mờ đục, như có một lớp sương mỏng phủ lên.
– Gãy từ năm tau về làm dâu. – Bà nói. – Năm mươi năm rồi. Vải nhà ni tấm mô cũng có một đường sọc mảnh ở chỗ cái răng gãy, hai sợi dọc nằm chung một khe. Người ta mua vải nhà ni, nhìn cái sọc là biết vải mệ Lành. Mi sốt nắng quên luôn răng?
Tôi không trả lời được. Tôi chỉ nhìn cái lược tre trên vách, cái răng gãy, và nghĩ đến bảy năm tôi bán quần áo, bảy năm tôi đo vải, đo eo, đo vai, cầm thước dây cả ngày. Tôi biết một đường lỗi dệt trông như thế nào. Ở xưởng may, người ta loại ngay những tấm vải như thế.
Ở đây, người ta nhìn nó là biết vải của ai.
Gần trưa, khi nắng đã gắt đến mức cát ngoài sân bốc lên những làn hơi lượn sóng, có tiếng chó sủa ran ngoài ngõ. Thằng Mót chạy ra rồi chạy vào, mặt tái mét.
– Mệ ơi, thầy Lưu tới!
Mệ Lành đứng dậy. Bà không vội, nhưng tôi thấy tay bà đưa lên vuốt lại mái tóc bạc, kéo lại vạt áo. Ở góc nhà, ông Thuận chống tay ngồi dậy, cái chân nẹp tre quệt trên chiếu sột soạt.
Thầy thơ lại Lưu là một người đàn ông ngoài bốn mươi, mặt trắng, người mập, mặc áo dài the đen, đội khăn, che một cái dù giấy dầu. Theo sau thầy là hai người lính cầm roi mây và một người khiêng một cái hòm gỗ. Thầy đứng ngoài sân, không vào nhà, như sợ cát bám vào đôi giày vải.
– Nhà Thuận. – Thầy nói, giọng the thé. – Thuế vải năm ngoái thiếu ba tấm. Năm nay phải nộp hai tấm. Cộng năm tấm. Tháng Mười thu, còn bốn tháng. Nhà có gì nộp chưa?
Mệ Lành đi vào buồng, ôm ra một tấm vải gai trắng ngà, cuộn tròn buộc lạt. Tấm vải cuối cùng bà dệt trước khi khung cửi bị đem cầm. Bà trải tấm vải ra trên cái chõng ngoài hiên.
Thầy Lưu ra hiệu. Người khiêng hòm mở nắp hòm, lấy ra một cây thước gỗ dài, màu nâu sẫm, hai đầu bịt đồng. Thầy cầm thước, đo tấm vải. Thầy đo rất nhanh, lật thước cạch cạch, miệng đếm.
– Một. Hai. Ba… Mười chín. Hai mươi. – Thầy dừng lại, nhìn đoạn vải còn thừa ra ở cuối, chưa đủ một thước. – Hai mươi thước chưa đủ. Thuế vải phải đủ hai mươi mốt thước một tấm. Tấm này thiếu. Không nhận.
– Thầy Lưu, – mệ Lành nói, giọng run run. – Tấm ni tau dệt đúng hai mươi mốt thước, đo bằng thước nhà tau, thước của bọ cái Thuận ngày xưa mua ở chợ phủ.
– Thước nhà bà là thước nhà bà. – Thầy Lưu cuộn thước lại. – Thuế đo bằng thước của phủ.
Tôi đứng sau lưng mệ, nhìn cây thước trong tay thầy Lưu. Và tôi nhìn tấm vải.
Bảy năm tôi bán quần áo. Bảy năm tôi đo vải bằng mắt trước rồi mới đo bằng thước. Có những ngày tôi cắt mẫu cả trăm tấm, có những ngày tôi xếp hàng cả nghìn cái áo. Tôi biết một sải tay của tôi dài bao nhiêu, một gang tay dài bao nhiêu, tôi biết bằng đôi mắt một khúc vải dài chừng nào mà không cần thước. Và đôi mắt tôi bảo tôi rằng cây thước trong tay thầy Lưu dài hơn những cái thước tôi vừa thoáng thấy trong ký ức của con Đậu. Không nhiều. Chỉ một chút. Một chút đủ để mỗi tấm vải đều thiếu.
Nhưng tôi không có gì để chứng minh. Tôi không có thước của phủ. Tôi không biết cái thước của phủ dài bao nhiêu. Ở cái thế giới này, tôi không biết một thước là bao nhiêu phân.
– Thưa thầy, – tôi nói. – Con xin thầy cho con mượn cây thước đo lại một lần.
Thầy Lưu nhìn tôi như nhìn một con gà vừa biết nói.
– Con gái nhà quê mà đòi cầm thước của quan? – Thầy nhếch mép. – Mi là con Đậu bị nhà ông Hương trả lễ sáng ni phải không? Ở nhà lo mà dệt vải trả thuế, đừng có mà đòi.
Thầy ra hiệu cho người lính. Người lính cầm tấm vải của mệ Lành, cuộn lại, kẹp vào nách.
– Tấm ni thiếu, tau tạm giữ. – Thầy Lưu nói. – Tháng Mười nộp đủ năm tấm, tấm nào đủ thước tau trả lại tấm ni. Không đủ thì thằng Thuận đi phu đắp thành ở phủ ba tháng.
– Bọ con gãy chân, thầy ơi! – Thằng Mót kêu lên.
– Gãy chân thì nằm cáng mà đi. – Thầy Lưu quay lưng. – Hoặc nhà ni bán ruộng khoai mà nộp tiền thay.
Thầy đi ra ngõ. Hai người lính đi theo, một người kẹp tấm vải của mệ Lành. Cái dù giấy dầu chao đi chao lại trong nắng.
Mệ Lành đứng yên giữa sân. Bà không khóc. Bà chỉ nhìn theo cái dù giấy dầu, rồi quay lại nhìn cái lược tre gãy một răng trên vách.
Tối hôm ấy nhà ăn khoai lang luộc với muối mè. Thằng Mót ăn bốn củ, ăn xong ngồi liếm muối dính trên đầu ngón tay. Ông Thuận ăn một củ rồi thôi. Mệ Lành không ăn.
Tôi ngồi ngoài hiên, nhìn ra những đồi cát trắng xóa dưới trăng.
Năm tấm vải. Bốn tháng. Không có khung cửi. Mệ Lành mắt mờ. Bọ con Đậu gãy chân. Một thằng bé mười tuổi. Và tôi, một đứa bán quần áo trên mạng, cả đời chưa từng ngồi trước một cái khung cửi, chưa từng trồng một cây khoai, chưa từng biết một thước vải ở thế giới này dài bao nhiêu.
Nhưng tôi biết một điều. Tôi biết nhìn một cây thước dài hơn bình thường.
— Hết chương 1 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe