AI Truyện
Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành

⏳ Trọng sinh & xuyên không

Khung cửi cầm ở nhà lái Kình

Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành · Chương 4/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Khung cửi cầm ở nhà lái Kình

Đường từ Bàu Nhum sang Hà Tân là một con đường cát trắng chạy giữa hai hàng xương rồng, dài chừng một canh giờ đi bộ. Tôi đi lúc gà gáy để tránh nắng, thằng Mót lon ton đi theo, xách một ống tre đựng nước.

Đến đầu làng Hà Tân thì trời vừa sáng. Làng này giàu hơn Bàu Nhum, nhà ngói nhiều hơn nhà tranh, có giếng xây gạch, có cả một cái chợ nhỏ họp buổi sáng ở sân đình. Thằng Mót chỉ tay về phía một cái cổng tre có giàn bông giấy đỏ rực.

– Nhà ông Hương đó, chị.

Tôi không định nhìn. Nhưng chân tôi tự dừng lại.

Có một người con trai đang đứng ở cổng, tay cầm cái chổi tre, đang quét lá. Cao, gầy, mặt hiền, mặc áo nâu. Khi thấy tôi, anh ta đứng sững lại, cái chổi rơi xuống đất.

Đó là Phúc. Tôi biết điều ấy không phải vì ký ức của con Đậu. Tôi biết vì cái thân xác này. Hai đầu gối tôi tự nhiên mềm nhũn, ngực tôi nặng như đeo đá, hai bàn tay tôi run lên mà tôi không bảo chúng run. Tôi chưa từng gặp người này trong đời. Nhưng con Đậu thì đã gặp.

Phúc chạy ra, dừng lại cách tôi mấy bước.

– Đậu… – Anh ta nói, giọng khàn. – Đậu ơi, anh xin lỗi. Bọ anh không cho. Anh đã quỳ cả đêm. Bọ anh nói nhà mình không gánh nổi nợ thuế nhà Đậu…

Tôi nhìn anh ta. Một người con trai hiền lành, yếu đuối, đã quỳ cả đêm trước mặt bố, rồi sáng hôm sau vẫn để người ta bưng mâm trầu đi trả. Tôi không giận anh ta. Tôi không thương anh ta. Tôi chỉ thấy cái thân xác này đang đau thay cho một người không còn ở đây nữa.

– Anh Phúc về đi. – Tôi nói. Giọng tôi run, nhưng là con Đậu run, không phải tôi. – Đậu không giận anh. Đậu chỉ… không chờ được nữa.

Tôi kéo tay thằng Mót, đi tiếp. Tôi không quay đầu lại. Đến khi đã khuất cái giàn bông giấy, tôi mới để cho con Đậu khóc. Tôi để nó khóc một lúc, trong lúc tôi đi, nước mắt chảy xuống cằm, nhỏ xuống cát. Thằng Mót đi bên cạnh, nắm chặt tay tôi, không nói câu nào.

Nhà lái Kình ở cuối làng Hà Tân, sát con đường lớn đi lên phủ. Một cái nhà ngói ba gian, bên cạnh có một cái kho lợp tranh rộng, cửa kho đóng chặt bằng then gỗ. Ngoài sân có cái xe bò, hai con bò vàng đang nhai rơm. Một người đàn ông đang ngồi xổm bên bánh xe, tay cầm cái đục, gõ gõ vào cái nan hoa gỗ.

Lái Kình ngồi trên bậc thềm, đang ăn sáng bằng bát cháo cá. Ông béo lùn, mặt tròn, nụ cười rộng. Khi ông cười, tôi thấy hai cái răng cửa của ông bị gãy, chỉ còn hai cái lỗ đen.

– Con Đậu nhà mệ Lành! – Ông nói to, như gặp người quen lâu ngày. – Sáng sớm ri qua đây chi rứa? Nghe nói nhà ông Hương trả lễ rồi hả? Tội nghiệp. Ăn cháo không?

– Dạ, con cảm ơn ông. Con qua hỏi chuyện cái khung cửi.

– À. – Lái Kình đặt bát cháo xuống. Nụ cười của ông vẫn rộng, nhưng đôi mắt ông thì không cười nữa. – Khung cửi nhà mi cầm cho tau hai quan, tháng Chạp năm ngoái, lãi mỗi tháng một tiền. Tới chừ là hai quan bảy tiền. Mi mang tiền qua chuộc hả?

– Con không có tiền, ông.

– Không có tiền thì qua chi?

Tôi nuốt nước bọt. Bảy năm bán hàng trên mạng, tôi đã thương lượng với không biết bao nhiêu nhà cung cấp, bao nhiêu xưởng may, bao nhiêu khách khó tính. Tôi biết một điều: trong mọi cuộc mặc cả, người thắng là người biết đối phương cần gì.

– Ông giữ cái khung cửi nhà con từ tháng Chạp đến giờ. – Tôi nói. – Ông bán được không?

Lái Kình không trả lời.

– Không bán được, – tôi nói tiếp. – Vì khung không có lược. Ai mua khung cửi mà không có lược thì phải đặt thợ làm lược mới. Một cái lược tre ba trăm răng, thợ làm mất cả tháng, tiền công bằng nửa cái khung. Cái khung nhà con để trong kho ông tám tháng nay, chắc mối mọt cũng đã gặm một góc. Đến cuối năm, ông không bán được, ông lấy làm củi.

Người đàn ông đang ngồi đục bánh xe ngẩng đầu lên nhìn tôi.

Lái Kình cười, lần này tiếng cười ngắn hơn.

– Mi nói tiếp đi.

– Ông cho con mang khung về. Con dệt bằng khung đó, cái lược của mệ con. Bốn tháng, con giao cho ông tám tấm vải gai hai mươi mốt thước. Ông tính con mỗi tấm hai tiền rưỡi. Tám tấm là hai quan. Bảy tiền lãi thì ông xóa cho con. Giao đủ tám tấm thì khung về nhà con hẳn.

– Hai tiền rưỡi? – Lái Kình nhíu mày. – Tau mua vải cả làng Bàu Nhum hai tiền một tấm.

– Lên chợ phủ, ông bán bao nhiêu một tấm?

Lái Kình nhìn tôi. Tôi nhìn lại ông. Tôi không biết giá ở chợ phủ. Không ai ở Bàu Nhum biết. Nhưng tôi đã bán quần áo bảy năm, và tôi biết một người buôn liều mạng qua đèo cướp, bị đánh gãy hai cái răng, không bao giờ chịu lời ít hơn gấp đôi.

– Năm tiền phải không ông? – Tôi nói, giọng nhẹ nhàng như hỏi giá rau.

Lái Kình không trả lời. Nhưng ông chớp mắt, chỉ một lần, rất nhanh. Bảy năm tôi ngồi trước màn hình đọc nét mặt khách hàng, đủ để tôi biết cái chớp mắt ấy nghĩa là tôi đã đoán gần đúng, có khi còn đoán thấp.

Ông cầm bát cháo lên, húp một ngụm, đặt xuống.

– Con nhỏ ni bị nắng làm cho khôn ra. – Ông nói với người đàn ông ngồi bên bánh xe, rồi quay sang tôi. – Được. Tám tấm, hai tiền rưỡi. Nhưng vải phải đủ hai mươi mốt thước, đo bằng thước của tau. Thiếu một tấc tau trừ nửa tiền.

– Đo bằng thước chợ phủ, ông.

– Thước tau mua ở chợ phủ.

– Rứa thì được.

Lái Kình đứng dậy, đi ra mở then cửa kho. Mùi kho xộc ra, mùi muối, mùi vải mốc, mùi dầu lạc, mùi khô cá. Ánh sáng lọt qua mấy lỗ thủng trên mái, chiếu xuống những chồng vải xếp cao ngang đầu người, những bao muối, những vò dầu. Ở góc kho, dưới một tấm chiếu rách, là cái khung cửi gỗ mít của nhà tôi, phủ một lớp bụi dày.

– Thằng Tràm. – Lái Kình gọi. – Khiêng giùm con nhỏ cái khung về Bàu Nhum. Coi luôn có chỗ mô mục thì sửa. Tiền công tau trả.

Người đàn ông ngồi bên bánh xe đứng dậy. Anh ta ngoài hai mươi lăm, người cao, vai rộng, da cháy nắng, tóc buộc gọn bằng một sợi dây gai. Anh ta không nói gì, chỉ gật đầu, đi vào kho, cúi xuống xem xét cái khung cửi một lúc. Rồi anh ta tháo từng thanh ngang ra, buộc lại thành một bó, vác lên vai như vác một bó củi.

Suốt đường về Bàu Nhum, anh Tràm không nói một câu. Anh đi trước, bó khung cửi trên vai, bước đều trên cát. Tôi và thằng Mót đi sau. Đi ngang cổng nhà ông Hương, tôi không nhìn vào. Anh Tràm cũng không nhìn vào, nhưng tôi thấy anh đi chậm lại, đi sát về phía bên trái con đường, che giữa tôi với cái cổng tre có giàn bông giấy.

Về đến nhà thì đã quá trưa. Anh Tràm đặt bó khung cửi xuống sân, lau mồ hôi, rồi bắt đầu lắp. Anh lắp nhanh, tay thoăn thoắt, không cần ai chỉ. Có một thanh xà dọc bị mối gặm mất một khúc, anh đẽo một thanh khác bằng gỗ xoan, ướm vào, gọt, rồi đóng chốt tre.

Mệ Lành ngồi ở hiên, nghe tiếng đục đẽo, gật gù.

– Thằng ni làm được việc. – Bà nói nhỏ với tôi. – Con trai ông thợ Kiến làng Hà Tân. Ông thợ Kiến đóng cái khung ni cho nhà mình hồi bọ mi mới cưới.

Khi khung cửi đã lắp xong, mệ Lành gỡ cái lược tre trên vách xuống, đưa cho anh Tràm. Anh Tràm cầm lấy, lật đi lật lại, rồi đưa ngón tay sờ lên cái răng gãy.

– Răng ni gãy, mệ. – Anh nói, giọng trầm, chậm rãi, như người ít nói lâu ngày. – Để con làm một cái răng khác cắm vô.

– Để đó. – Mệ Lành nói ngay.

Anh Tràm nhìn bà, rồi gật đầu, không hỏi tại sao. Anh lắp cái lược vào khung cửi, cái răng gãy vẫn nguyên chỗ cũ.

Lúc anh Tràm về, tôi tiễn anh ra ngõ. Anh đi được mấy bước thì quay lại.

– O Đậu. – Anh nói. – Lái Kình không bán được cái khung vì không có lược, đúng rồi. Nhưng không phải vì thợ làm lược mất một tháng.

– Rứa thì vì răng?

– Vì cả vùng ni chỉ có tôi làm được lược, mà tôi không làm cho lái Kình. – Anh nói. Rồi anh quay lưng đi.

Đêm hôm ấy, mệ Lành ngồi vào khung cửi, lần đầu tiên sau tám tháng. Bà mắc sợi dọc, xâu từng sợi qua từng răng lược, mắt nhắm lại, tay sờ. Bà làm suốt từ chập tối đến nửa đêm, không nghỉ. Tôi ngồi bên cạnh, nhìn, học.

Đến gần sáng, bà đạp cái bàn đạp đầu tiên. Tiếng khung cửi kêu cạch một tiếng, rồi cạch, cạch. Thằng Mót đang ngủ trên phản cũng choàng dậy, ngồi nhìn, mắt sáng rỡ.

Sáng hôm sau, tôi đi ra đầu làng gánh nước thì gặp đám đàn bà làng Bàu Nhum đang đứng quanh cái giếng làng, nói chuyện ầm ĩ. Bà Hai Cỏ đứng giữa, thấy tôi thì cười khẩy.

– Con Đậu đi chuộc được khung cửi rồi đó hả? Chắc lái Kình thương tình. Dệt được tấm mô chưa?

Tôi không trả lời. Tôi thả cái gàu xuống giếng.

Gàu chạm đáy. Một tiếng khô khốc, như gõ vào đất.

Tôi kéo gàu lên. Trong gàu chỉ có một lớp bùn sệt màu vàng đục, chừng nửa bát. Đám đàn bà im bặt.

– Giếng cạn rồi. – Bà Hai Cỏ nói, giọng không còn cười nữa. – Hai mươi năm nay, giếng ni chưa cạn lần mô.

— Hết chương 4 —

Mục lục Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành

  1. 1Mâm trầu bị trả về10 phút đọc
  2. 2Cát lấp luống khoai9 phút đọc
  3. 3Mệ biết9 phút đọc
  4. 4Khung cửi cầm ở nhà lái Kình9 phút đọc
  5. 5Giếng mặn9 phút đọc
  6. 6Phiên đổi hàng dưới gốc trôm9 phút đọc
  7. 7Thước đồng ở chợ phủ9 phút đọc
  8. 8Năm đêm khung cửi không nghỉ9 phút đọc
  9. 9Răng lược gãy11 phút đọc

Về truyện này

Răng lược gãy trên khung cửi nhà mệ Lành là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Thiện của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →