Chương 9: Mài một thanh kiếm cho người thắng
– Ta biết từ chiêu thứ ba, – Phí Trầm Sa nói lại, như sợ người ta chưa nghe rõ. – Chiêu thứ ba, hai lưỡi kiếm chạm nhau, kiếm của Khuất huynh kêu đục. Không phải tiếng thép. Tiếng như gõ vào cái chum có vết rạn. Ta nghe ra ngay.
Ông già của tôi vẫn quỳ. Ông ngẩng lên nhìn Phí Trầm Sa, miệng hơi há ra, như người vừa bị ai tạt nước lạnh vào mặt.
– Tiên sinh biết… mà vẫn đánh?
– Ta biết, mà ta đánh vào đúng chỗ ấy.
Cả cổng ải im lặng. Đến gió cũng như ngừng thổi.
Phí Trầm Sa nhìn xuống cái lục lạc trong tay mình.
– Năm ấy ta bốn mươi tám tuổi. Đánh bốn mươi trận chưa từng thắng nổi một người có tên tuổi như Khuất huynh. Đứng trên lôi đài bờ hồ, trước mặt cả thành Lũng Châu, nghe tiếng kiếm kêu đục, ta nghĩ: trời cho ta rồi. Từ chiêu thứ tư đến chiêu thứ chín, chiêu nào ta cũng nhắm vào một chỗ, cái chỗ cách chuôi một gang tay rưỡi. – Ông ấy cười, cái cười như tiếng chuông nứt. – Đến chiêu thứ chín thì nó gãy. Đúng chỗ ấy. Cả bờ hồ reo lên. Ta đứng đó, nhìn nửa lưỡi kiếm văng xuống hồ, và ta biết cả đời ta sẽ không bao giờ nghe được tiếng reo ấy mà không thấy nhục.
Ông ấy giơ mẩu giấy gấp nhỏ lên.
– Ta không dám nói trước mặt mọi người. Ta là người hèn. Ta chỉ dám viết vào đây, nhét vào lục lạc, đưa cho huynh ấy, bảo khi nào sẵn sàng thì mang lên trả. Ta nghĩ huynh ấy sẽ đọc. Rồi huynh ấy sẽ đến tìm ta, hoặc chửi ta, hoặc tha cho ta. Ta chờ hai mươi năm. Huynh ấy không đến. Ta nghĩ huynh ấy khinh ta đến mức không thèm trả lời.
– Anh ấy không đọc, – ông già của tôi nói khẽ. – Anh ấy bảo ai viết gì vào đó thì cũng là thương hại. Anh ấy nhét giấy vào cho lục lạc câm, rồi để nó câm suốt hai mươi năm.
Phí Trầm Sa nhắm con mắt phải lại.
– Mắt ta giờ không đọc được chữ nhỏ, – ông ấy nói. – Trong các người, ai biết chữ?
Không ai lên tiếng. Rồi Lương Cán bước lên. Anh ta chùi hai bàn tay xanh chàm vào vạt áo, chùi rất lâu, rồi mới đưa tay ra nhận mẩu giấy.
– Cha tôi là thầy đồ, – anh ta nói. – Tôi đọc được.
Anh ta mở mẩu giấy ra, từng nếp một. Giấy đã vàng như lá úa, nét mực đã nhạt nhưng vẫn rõ. Anh ta đọc to, giọng ồm ồm của người thợ nhuộm, vang khắp vòm cổng đá:
– Kiếm của huynh nứt từ chiêu thứ ba. Ta biết, mà ta đánh vào chỗ nứt. Trận này ta không thắng. Hai mươi năm nữa, ta đứng ở Hạ Quan chờ huynh, không mang kiếm. Phí.
Lương Cán gấp mẩu giấy lại, trả vào tay Phí Trầm Sa.
– Không mang kiếm, – anh ta nói. – Nhưng ông vẫn mang kiếm.
– Vì ta đã nghĩ huynh ấy không đọc. – Phí Trầm Sa nói. – Ta nghĩ huynh ấy sẽ đến với một thanh kiếm thật, và ta phải để huynh ấy đánh một trận cho trọn. Rồi ta sẽ thua. Thua cho thật.
Ông ấy tháo thanh kiếm vỏ gỗ đen bên hông ra, đặt xuống nền đá, cạnh nửa thanh kiếm gãy đang cắm trong khe.
Rồi ông ấy cúi xuống, đưa tay ra cho ông già của tôi.
– Đứng dậy, Mài. Ngươi quỳ trước một kẻ hèn như ta làm gì.
Ông già của tôi nắm lấy bàn tay ấy. Hai bàn tay, một bàn tay chai ở lòng và gốc ngón trỏ, một bàn tay chai ở đốt trong ngón cái. Phí Trầm Sa kéo ông đứng dậy.
Đến lúc ấy, đám đông mới vỡ ra.
Không ai biết phải làm gì với chỗ tiền đã đặt. Cửa Khuất tới thì Khuất không tới, mà người tới thì có tới. Cửa Phí thắng thì Phí tự nhận thua, một trận đã đánh từ hai mươi năm trước. Mấy gã chủ lán cược cãi nhau như mổ bò. Gã béo cưỡi ngựa giật tờ biên nhận của mình, hét đòi trả lại tiền. Cuối cùng, gần tối, các sòng tuyên bố trận này coi như hòa, ai đặt cửa nào lấy lại tiền cửa ấy, trừ một phần mười tiền công. Cả thị trấn chửi ầm ĩ suốt đêm, rồi sáng hôm sau người ta lại khăn gói về, chửi tiếp dọc đường.
Tôi không quan tâm đến chuyện ấy. Tôi chỉ nhớ buổi chiều hôm ấy, khi đám đông đã tan gần hết, dưới vòm cổng đá chỉ còn mấy người.
Phí Trầm Sa ngồi trên một bậc đá. Ông già của tôi ngồi đối diện. Lương Cán ngồi xa hơn một chút, nhai một cọng cỏ. Ứng Thạch đứng dựa vào vách, cổ tay vẫn sưng, thanh kiếm tua đỏ đã nhặt lên nhưng không tra vào vỏ, chỉ cầm trên tay.
– Mài, – Phí Trầm Sa nói, đẩy thanh kiếm vỏ gỗ đen về phía ông già. – Hai mươi năm nay ta không cho ai mài nó. Ngươi mài cho ta một lần được không?
Ông già cầm lấy, rút kiếm ra. Lưỡi kiếm xám, dài, mép đã mòn không đều, có mấy chỗ mẻ nhỏ như răng cưa. Ông nhìn nó rất lâu, nghiêng dưới ánh nắng chiều, gõ móng tay vào sống kiếm, áp tai nghe.
– Không nứt, – ông nói.
– Ta biết. – Phí Trầm Sa cười. – Ta đã nhìn nó mỗi ngày, hai mươi năm, chỉ để chắc là nó không nứt.
Ông già quay sang tôi.
– Mạt. Đá.
Tôi lấy viên đá xanh từ trong ngực áo ra. Nó vẫn còn ấm hơi người. Tôi đặt nó vào tay ông. Ông không cầm. Ông đẩy nó lại.
– Mày mài.
Tôi nhìn ông. Rồi tôi nhìn thanh kiếm của Phí Trầm Sa, thanh kiếm đã đánh gãy kiếm của Khuất Vân Phong.
– Con… con mới mài được con dao rựa.
– Thì giờ mài kiếm. Kiếm cũng là dao, chỉ dài hơn. – Ông chỉ vào một chỗ mẻ gần mũi. – Ba nước một dầu. Đừng đè.
Tôi múc nước từ cái vũng đọng trong hốc đá, vẩy lên mặt viên đá. Tôi đặt lưỡi kiếm lên, nghiêng một góc nhỏ, như ông dạy. Tay trái tôi đã tháo nẹp được mười ngày, vẫn còn yếu, run run. Tôi đẩy đi. Kéo về.
Không ai nói gì. Chỉ có tiếng thép trên đá, xoẹt, xoẹt, đều như tiếng thở. Phí Trầm Sa nhìn tay tôi. Ông già của tôi nhìn tay tôi. Ứng Thạch, đứng dựa vách, cũng nhìn tay tôi.
Ba lần nước. Một giọt dầu. Mặt trời xuống thấp dần, nắng chiều nhuộm vàng cả hai vách núi.
Khi tôi lau thanh kiếm vào vạt áo và đưa lại cho Phí Trầm Sa thì trời đã nhá nhem. Ông ấy cầm lấy, đưa lên trước con mắt phải, nhìn mép lưỡi. Rồi ông ấy nhổ một sợi tóc bạc trên đầu mình, thả nó xuống lưỡi kiếm.
Sợi tóc đứt làm đôi, hai nửa bay đi trong gió Lào.
Phí Trầm Sa không nói gì. Ông ấy chỉ gật đầu một cái với ông già của tôi, cái gật đầu của người thợ nói với người thợ.
Một lúc sau, Ứng Thạch bước ra khỏi vách đá. Anh ta đi đến trước mặt tôi, đứng đó một lúc, mặt khó đăm đăm như người nuốt phải hột me. Rồi anh ta chìa thanh kiếm tua đỏ ra, chuôi về phía tôi.
– Chỗ mẻ gần chuôi, – anh ta nói, không nhìn tôi. – Lúc sáng va vào gậy của thằng thợ nhuộm. Mai mài giùm tôi được không?
Lương Cán phun cọng cỏ ra, cười ha hả.
Chúng tôi ở lại ải Hạ Quan ba ngày. Rồi chúng tôi về.
Đường về không vội nữa. Lương Cán đẩy ông già trên xe cút kít đến tận làng Vải, rồi ở lại làng, bảo ông già lần sau có đi qua thì ghé, cha anh ta muốn nghe kể chuyện Hạ Quan. Đến bến Rạch Lở, Út Sả nấu cho chúng tôi một nồi canh chua cá lóc, con dao phay của nó vẫn sắc như hôm ấy. Đến Lũng Châu, bà Thược cài cây trâm ngọc đứng chờ ở bậc quán trà, thược dược đỏ trong chậu đã nở lứa mới.
Ở gầm cây cầu đá bên hồ, thằng bé mắt chuột vẫn nằm đó với mấy đứa ăn mày. Tôi mua hai cái bánh rán, đưa nó một cái nguyên, không phải nửa. Nó kể sòng của Hồ lão Ngũ phải trả lại tiền cho cả nghìn người đặt cửa, lão tức đến mức đóng cửa sòng nửa tháng, còn thằng Tư Sẹo thì đã bỏ thành đi đâu không ai biết. Nó hỏi tôi đã học được kiếm chưa. Tôi bảo chưa, học được mài dao. Nó cười tôi ngu. Tôi cũng cười.
Nửa thanh kiếm gãy, chúng tôi mang về bến cá Vũng Sò. Ông già đào một cái hố nhỏ cạnh nấm mộ đắp cát của Khuất Vân Phong, sau cái chòi đan lưới cũ, chôn nó xuống cùng với mẩu giấy vàng mà Phí Trầm Sa đã gửi về. Ông không khóc. Ông chỉ ngồi đó đến tối, viên đá mài xanh trên đùi, ngón tay cái miết đi miết lại trên mặt đá lõm.
Ông sống thêm được bảy tháng. Mùa đông năm ấy lại rét. Ông đi vào một đêm tháng Chạp, gần đúng một năm sau ông Khuất, đi lặng lẽ như người ngủ quên.
Bây giờ tôi ngồi ở đầu chợ cá Vũng Sò, mỗi sáng, trên cái thúng úp ngược. Trước mặt là viên đá xanh đặt trên miếng gỗ, bên cạnh là một chậu nước và cái lọ sành bé bằng ngón tay đựng dầu. Người ta mang dao, mang kéo, mang lưỡi liềm đến. Cả Ngạnh cũng mang thanh đao đã hàn lại chuôi đến, mỗi tháng một lần, trả hai đồng, không mặc cả.
Sáng nay có một thằng bé chừng mười tuổi đứng lảng vảng sau lưng tôi rất lâu. Tôi nghe tiếng chân nó, nghe cả tiếng nó nín thở lúc thò tay về phía cái túi vải tôi đeo bên hông.
Tôi không quay lại.
– Thằng nhỏ, – tôi nói. – Trong túi có cái lọ dầu với mấy đồng tiền. Mày lấy thì được ba đồng. Còn nếu mày ngồi xuống đây vẩy nước cho tao đến trưa, tao trả mày năm đồng, cho thêm bát cháo cá.
Tôi nghe nó đứng im một lúc. Rồi nó ngồi xuống.
Ngón tay cái phải của tôi, ở đốt trong, chỗ đè lên sống dao, đã có một lớp chai mỏng. Chưa cứng như sừng. Ông bảo ba năm. Tôi còn hai năm nữa.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe