AI Truyện
Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong

🏯 Cổ đại & cung đấu

Cây sáo ở làng Vải

Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong · Chương 3/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Cây sáo ở làng Vải

Ở làng Vải, tiếng khung cửi nghe được từ ngoài cổng làng, lách cách lách cách, như cả làng là một cái máy khâu khổng lồ đang may một tấm áo không bao giờ xong.

Chúng tôi đến đó vào chiều ngày thứ mười lăm. Đường từ bến Rạch Lở lên đây đi qua những đồi sắn, những rừng tre, rồi lên một cái gò đất đỏ có ba trăm nóc nhà, nhà nào cũng có một hai khung cửi kê dưới hiên. Vải làng này dệt bằng sợi bông, nhuộm chàm, nhuộm củ nâu, đem xuống bến Rạch Lở bán cho ghe buôn. Đường làng phơi vải dài hun hút, xanh, nâu, trắng ngà, gió thổi phần phật như cờ.

Ông già hỏi đường đến nhà thầy đồ Lương.

Lớp học của thầy đồ Lương Ẩn là một gian nhà ngói ba gian ở cuối làng, cạnh cái ao sen. Chúng tôi đứng ở cổng thì nghe tiếng trẻ con đọc bài, đồng thanh, kéo dài như tiếng ve. Qua cửa sổ, tôi thấy một ông già tóc bạc ngồi trên sập, tay trái cầm cái thước tre, tay phải đặt trên đùi.

Cánh tay phải của ông ấy cong một cách kỳ lạ. Từ khuỷu xuống cổ tay, nó vặn đi một góc, như cành cây bị gió bẻ rồi cứ thế mà mọc tiếp. Bàn tay teo lại, mấy ngón quắp vào nhau.

Ông già của tôi đứng nhìn cánh tay ấy rất lâu. Rồi ông bảo tôi mở tay nải, lấy cây sáo.

Lớp tan, trẻ con ùa ra như ong vỡ tổ. Thầy đồ Lương ra tiễn chúng ở hiên, rồi nhìn thấy chúng tôi đứng ở cổng. Ông nheo mắt. Mắt ông đã kém, phải nhìn một lúc mới rõ.

– Ai đấy?

Ông già của tôi bước vào sân. Ông đi đến trước thềm, đặt cây sáo trúc lên bậc gạch, rồi quỳ xuống.

Tôi chưa bao giờ thấy ông quỳ. Ở bến cá, Cả Ngạnh chĩa đao vào mặt, ông không cúi đầu. Ở bến Rạch Lở, Hai Rắn xấc xược, ông không nhíu mày. Bây giờ ông quỳ, hai đầu gối chạm xuống nền sân gạch, đầu cúi thấp.

– Lương huynh. Ba mươi năm trước, ở lôi đài thành Lũng Châu, huynh đã giơ tay nhận thua. Khuất Vân Phong vẫn đánh thêm một đòn. Hôm nay xin trả lại cây sáo, và xin lỗi huynh.

Thầy đồ Lương đứng sững trên thềm. Cây thước tre trong tay trái rơi xuống, lăn lốc cốc trên bậc gạch.

Ông ấy chưa kịp nói gì thì có tiếng chân chạy rầm rập từ ngoài cổng.

– Cha! Ai đấy cha?

Một người đàn ông chừng ba mươi tuổi chạy vào, vai rộng, tay to, trên người còn mặc cái tạp dề da của thợ nhuộm, hai bàn tay xanh lè màu chàm đến tận khuỷu. Anh ta nhìn ông già đang quỳ, nhìn cây sáo trên bậc thềm, nhìn thanh kiếm trên lưng ông. Mặt anh ta đổi sắc. Tôi đoán anh ta đã nghe kể chuyện này cả đời.

– Khuất Vân Phong? – anh ta nói, giọng khàn đi. – Ông là Khuất Vân Phong?

Ông già không ngẩng lên.

– Phải.

– Ông còn dám về đây?

– Cán! – thầy đồ Lương quát.

Nhưng Lương Cán không nghe. Anh ta chụp lấy cây gậy song dựng ở góc hiên, cây gậy thầy đồ vẫn chống những hôm trời trở lạnh, to bằng cổ tay, cứng như sắt.

– Ba mươi năm cha tôi không cầm được bút tay phải, phải tập viết bằng tay trái như đứa trẻ lên năm. Ba mươi năm cha tôi không thổi được một tiếng sáo. – Giọng anh ta run lên. – Ông quỳ một cái là xong à? Ông giơ tay phải ra đây.

Ông già từ từ đưa tay phải ra phía trước, lòng bàn tay ngửa lên. Ông không rút kiếm. Ông không né.

Lương Cán giơ gậy lên.

Tôi không biết tại sao mình lại làm thế. Sau này nghĩ lại, tôi vẫn không biết. Chỉ biết lúc cây gậy song ấy giáng xuống, tôi đã nhảy ra chắn trước mặt ông, giơ cánh tay trái lên đỡ.

Có một tiếng bốp. Rồi tôi không nghe thấy gì nữa, chỉ thấy một cơn đau trắng xóa chạy từ cổ tay lên đến tận vai. Tôi ngã ngồi xuống sân gạch. Cánh tay trái tôi rũ xuống như một cái ống tre bị chẻ.

– Thằng ngu! – ông già quát, lần đầu tiên tôi nghe ông quát. – Ai bảo mày?

Lương Cán đứng đờ ra, cây gậy song còn giơ lưng chừng. Anh ta nhìn tôi, rồi nhìn cây gậy trong tay mình. Mặt anh ta trắng bệch.

– Nó… nó tự nhảy vào…

– Bỏ gậy xuống, – thầy đồ Lương nói. Giọng ông ấy không to, nhưng Lương Cán buông gậy ngay, cây gậy rơi xuống sân kêu một tiếng khô.

Thầy đồ bước xuống thềm, chậm chạp, đến bên tôi, cầm lấy cổ tay trái tôi bằng bàn tay trái của ông ấy. Ông ấy nắn nhẹ dọc xương. Tôi kêu lên.

– Không gãy, – ông ấy nói. – Rạn thôi. Cán, đi lấy lá đắp với nẹp tre.

Lương Cán đi, không nói một lời.

Tối hôm ấy, tay tôi được nẹp giữa hai thanh tre, đắp một thứ lá giã nát mùi hăng hắc, quấn kín bằng vải làng Vải. Cánh tay sưng to như cái chày giã cua. Thầy đồ Lương giữ chúng tôi ở lại, dọn cơm ra hiên. Lương Cán ăn ở trong bếp, không ra.

Ăn xong, thầy đồ Lương cầm cây sáo lên. Ông ấy xoay nó trong bàn tay trái, ngón tay lần qua từng cái lỗ. Rồi ông ấy gọi:

– Cò ơi!

Một thằng bé chừng tám tuổi chạy ra từ trong nhà, tóc để chỏm, mặt lấm nhọ nồi. Cháu nội ông ấy.

– Cầm lấy. Đặt môi vào đây. Thổi nhẹ thôi, như thổi cho nguội cháo.

Thằng Cò thổi. Cây sáo kêu lên một tiếng phì phò, như con trâu thở. Thằng bé cười khanh khách. Thầy đồ cũng cười.

– Tay tôi không cầm sáo được nữa, – ông ấy nói với ông già của tôi, mắt vẫn nhìn thằng cháu. – Nhưng miệng tôi vẫn còn. Tôi dạy bằng miệng. Ba năm nữa, thằng này thổi được bài Lưu thủy.

Thằng Cò thổi thêm mấy hơi nữa. Lần này cây sáo ra được một tiếng trong, ngắn, run run như tiếng chim sẻ non mới tập hót. Thằng bé tròn mắt, buông sáo ra nhìn nó như nhìn một con vật lạ. Thầy đồ Lương bảo nó thổi lại. Nó thổi, lại ra tiếng phì phò. Nó dẩu môi, thổi lần nữa, rồi lần nữa, cho đến lúc bà nội nó trong bếp phải gọi ra bảo thôi kẻo cả xóm tưởng nhà có trâu đẻ.

Tôi ngồi ôm cánh tay nẹp tre, nhìn ông già của tôi. Ông không cười. Ông nhìn cây sáo trong tay thằng bé như người ta nhìn một ngọn đèn vừa thắp lại trong căn nhà đã tắt đèn từ lâu.

Ông già của tôi không nói gì. Ông chỉ cúi đầu, rất thấp.

Khuya, thầy đồ Lương pha một ấm trà, ngồi với ông già ở hiên. Tôi nằm trong nhà, trên cái phản gỗ, tay đau không ngủ được, nghe được hết.

Hai ông già ngồi im rất lâu. Tiếng ếch nhái dưới ao sen kêu râm ran. Tiếng khung cửi nhà ai đó vẫn còn lách cách dù đã khuya.

– Ba mươi năm, – thầy đồ Lương nói. – Ba mươi năm tôi nghĩ nếu gặp lại Khuất Vân Phong, tôi sẽ nói gì. Tôi nghĩ ra cả trăm câu. Giờ ông ngồi đây thì tôi không nhớ câu nào.

– Huynh cứ nói.

– Thôi. – Thầy đồ rót trà. – Ông đưa tay đây cho tôi.

– Tay nào?

– Tay phải. Cái tay đã đánh tôi.

Ông già đưa tay phải ra. Qua khe cửa, tôi thấy thầy đồ Lương cầm lấy bàn tay ấy bằng bàn tay trái của mình. Ông ấy không nắm. Ông ấy sờ. Sờ chậm rãi, như người mù sờ mặt người thân. Lòng bàn tay. Gốc ngón trỏ. Đốt ngón cái.

Ngón tay ông ấy dừng lại ở đốt trong của ngón cái, chỗ giáp với lòng bàn tay. Dừng ở đó rất lâu.

– Ba mươi năm trước, – thầy đồ Lương nói khẽ, – trên lôi đài, khi ông đánh vào tay tôi, tôi đã nhìn rõ bàn tay cầm kiếm của ông. Tôi nhớ nó cả đời. Người cầm kiếm lâu năm thì có chai ở đây. – Ông ấy ấn vào lòng bàn tay, chỗ gốc các ngón. – Và ở đây. – Gốc ngón trỏ.

Ông già của tôi không rút tay lại.

– Bàn tay này thì chai ở chỗ khác, – thầy đồ nói. – Ở đốt trong ngón cái, chỗ người ta đè lên sống lưỡi dao. Và ở đầu ba ngón tay, mòn nhẵn như đá. Tôi biết loại chai này. Ông thợ mài kéo dạo qua làng tôi mỗi mùa cũng có đúng hai chỗ chai như thế.

Tiếng ếch nhái dưới ao im bặt, như thể chúng cũng đang nghe.

Ông già của tôi vẫn không rút tay lại. Ông cũng không nói gì.

Một lúc lâu, thầy đồ Lương buông tay ông ra, cầm chén trà lên.

– Tôi không hỏi ông là ai, – ông ấy nói. – Cây sáo về rồi. Thằng cháu tôi sẽ thổi được. Cái lời xin lỗi ấy, ai mang đến thì cũng là lời xin lỗi. Tôi nhận.

– Cảm ơn huynh.

– Đừng cảm ơn. – Thầy đồ uống một ngụm trà. – Chỉ nhờ ông một việc. Thằng nhỏ trong nhà kia, nó vì ông mà rạn tay. Ông đừng để nó đỡ thêm cây gậy nào nữa.

Sáng hôm sau, chúng tôi đi sớm. Lương Cán đứng ở cổng làng, hai tay khoanh trước ngực, tay vẫn xanh màu chàm. Anh ta không nhìn ông già. Anh ta nhìn tôi, nhìn cánh tay nẹp tre của tôi.

– Đau không?

– Đau, – tôi nói.

Anh ta gật đầu, như thế là đúng.

– Ông lên Hạ Quan đánh với Phí Trầm Sa, cả cái tỉnh này đồn rồi. – Anh ta quay sang ông già. – Tôi sẽ lên đó. Tôi muốn tận mắt xem ông thua.

– Đường xa, – ông già nói.

– Tôi đi nhanh hơn ông.

Chúng tôi ra khỏi làng Vải, đi giữa những tấm vải phơi dài hun hút hai bên đường. Tay tôi đau nhói từng nhịp chân. Ông già đi trước, không nói gì, lưng còng hơn mọi ngày.

Đi đến một quãng vắng, tôi nhìn xuống bàn tay phải của mình. Tôi tự sờ vào đốt trong ngón cái. Da mềm. Không có chai. Rồi tôi nhìn bàn tay phải của ông già, đang đung đưa bên hông theo nhịp bước. Đốt trong ngón cái. Đầu ba ngón tay mòn nhẵn như đá.

Tôi đã nghe thầy đồ nói hết. Tôi biết ông biết tôi đã nghe.

Nhưng không ai trong chúng tôi nói ra câu ấy. Chúng tôi chỉ đi tiếp, ông trước, tôi sau, như hai người đang khiêng chung một cái gì đó rất nặng mà không ai dám đặt xuống trước.

— Hết chương 3 —

Mục lục Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong

  1. 1Thanh kiếm không rút10 phút đọc
  2. 2Cái bát sứt ở bến Rạch Lở10 phút đọc
  3. 3Cây sáo ở làng Vải10 phút đọc
  4. 4Sòng cược thành Lũng Châu9 phút đọc
  5. 5Quán trà bên hồ9 phút đọc
  6. 6Bến Sậy Đen9 phút đọc
  7. 7Ba nước một dầu9 phút đọc
  8. 8Đoan Ngọ ở ải Hạ Quan9 phút đọc
  9. 9Mài một thanh kiếm cho người thắng9 phút đọc

Về truyện này

Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →