Chương 2: Cái bát sứt ở bến Rạch Lở
Cái quán cơm ở bến đò Rạch Lở chỉ còn đúng sáu cái bát lành khi chúng tôi bước vào. Mười mấy cái khác nằm vỡ dưới gầm chõng tre, mảnh sành trắng lẫn với cơm vãi và nước canh chua đổ lênh láng.
Một con bé chừng mười bảy tuổi đang cúi nhặt mảnh bát bằng tay không. Nó ngẩng lên khi thấy bóng người ở cửa, mắt còn đỏ, nhưng giọng thì sắc như dao cau.
– Hết cơm. Đi chỗ khác.
– Còn nồi cơm trên bếp kia, – ông già nói.
– Cơm ấy để cho chó.
– Thì cho tao hai bát. Tao với thằng này đi sáu ngày rồi, đói như chó thật.
Con bé nhìn ông một lúc, nhìn thanh kiếm trên lưng ông, rồi nhìn tôi. Tôi đoán nó đang cân xem hai cái bộ xương này có phải người của bọn đập quán không. Rồi nó đứng dậy, chùi tay vào vạt áo, xới cho chúng tôi hai bát cơm và một đĩa cá linh kho.
Bến Rạch Lở nằm ở chỗ con rạch nhỏ đổ ra sông Cái. Muốn đi ngược lên miền bắc thì phải qua đò ở đây. Quán cơm nằm ngay đầu bến, mái lá dừa, sáu cái chõng tre, một cái bếp đất, một tấm phên che gió. Người ta gọi nó là quán bà Tư, dù bà Tư đã mất hai năm, giờ chỉ còn con cháu gái là Út Sả trông.
Ông già ăn chậm, nhai từng miếng như sợ cơm hết. Ăn xong, ông bảo tôi mở tay nải, lấy ra cái bát sứt.
Ông đặt nó lên chõng, trước mặt Út Sả.
– Bà Tư là bà nội mày à?
Con bé nhìn cái bát. Mặt nó đổi sắc từ từ, như nước dưới sông khi mây kéo qua.
– Cái bát này… bà con kể…
– Bốn mươi năm trước, – ông già nói, – có một thằng con trai chạy qua bến này, đói lả, bị người ta đuổi. Bà Tư cho nó ăn ba bát cơm với canh chua cá lóc. Nó không có tiền. Nó xin bà cái bát, hứa sau này mang về trả cả bát lẫn tiền cơm.
– Bà con bảo ông ấy tên là Phong, – Út Sả nói, giọng nhỏ hẳn. – Bà con bảo ông ấy là đứa duy nhất lấy bát của bà mà không phải để đập.
– Thằng ấy là Khuất Vân Phong. – Ông già đặt lên chõng một gói bạc nhỏ. – Nó nhờ tao mang về trả.
Tôi nghe câu ấy, thấy hơi lạ. Ông bảo thằng ấy nhờ ông, như thể ông với thằng ấy là hai người khác nhau. Nhưng lúc ấy tôi nghĩ ông nói kiểu người già, nói về mình hồi trẻ như nói về một đứa khác. Mấy ông già ở bến cá Vũng Sò cũng hay nói thế.
Út Sả đẩy gói bạc lại.
– Bà con dặn, cơm cho người đói thì không lấy tiền. Cái bát thì con nhận.
Nó cầm cái bát lên, xoay một vòng, rồi đặt nó lên cái bàn thờ nhỏ trên vách, cạnh bát hương, trước cái bài vị gỗ ghi tên bà nội. Nó đứng đó một lúc lâu.
Đúng lúc ấy thì bọn Rắn Nước tới.
Chúng có năm đứa, đi trên một chiếc ghe dài sơn đen, cắm sào ngay trước quán. Đứa cầm đầu là một gã ba mươi tuổi, gầy và dai như sợi mây, trên cánh tay có hình một con rắn nước xăm bằng mực chàm. Người bến gọi gã là Hai Rắn. Gã nhảy lên bờ, tay cầm một thanh mã tấu dài, lưỡi sáng loáng.
– Út, hôm qua tao nói rồi. Bến này bây giờ là của tao. Quán mày muốn mở thì tháng nộp năm tiền.
– Bà con mở quán ở đây ba mươi năm, chưa nộp cho ai.
– Thì giờ nộp. – Hai Rắn liếc vào trong quán, nhìn thấy ông già và tôi, nhìn thấy thanh kiếm. Rồi gã cười, cười rất to. – À. Hóa ra là ông. Ông Khuất Vân Phong.
Tôi giật mình. Ông già thì không.
– Tin đi nhanh thế à?
– Ghe buôn từ Vũng Sò lên đây ba ngày. Ông đi bộ sáu ngày. – Hai Rắn bước vào quán, kéo một cái chõng ngồi xuống đối diện ông già, đặt thanh mã tấu lên đùi. – Cả bến sông này đều biết chuyện ông nhìn một cái là thanh đao của Cả Ngạnh gãy. Tôi không phải Cả Ngạnh. Tôi đi mua dao thì tôi thử dao. Ông nhìn đi. Ông nhìn xem dao tôi nứt chỗ nào.
Gã đưa thanh mã tấu ra, chuôi về phía ông già.
Ông già cầm lấy. Lần thứ hai tôi thấy ông nhìn một lưỡi dao như thế, nhìn sát, nghiêng dưới ánh sáng từ cửa quán, gõ nhẹ móng tay vào sống dao, áp tai nghe. Cả quán im phăng phắc. Út Sả đứng ở góc bếp, tay nắm chặt cái muôi.
Rồi ông trả thanh mã tấu lại.
– Không nứt.
Hai Rắn cười đắc thắng.
– Thế ông còn gì để nói?
– Không nứt, nhưng cùn. – Ông già nói. – Mày dùng nó chặt gỗ, chặt dây, chặt cả xương lợn. Lưỡi nó bè ra như lưỡi cuốc. Mày dọa người thì được. Mày cắt cái gì cho ngọt thì không.
– Ông nói láo.
– Thế thì cá. – Ông già chỉ ra ngoài, nơi chiếc ghe đen của bọn Rắn Nước đang neo, sợi dây neo bằng xơ dừa to bằng ngón chân cái, ướt sũng, căng từ mũi ghe xuống cái cọc tre. – Dây neo ghe mày. Mày chém một nhát, đứt thì tao thua. Rồi con bé này chém một nhát bằng con dao bếp của nó. Nó đứt mà mày không đứt, thì bọn mày để cái quán này yên.
Hai Rắn nhìn con dao bếp trên thớt của Út Sả. Đó là một con dao phay cũ, lưỡi đen sì, mẻ hai chỗ, thứ dao để chặt cá.
Gã cười đến chảy cả nước mắt.
– Con dao ấy à? Được. Cá thì cá. Ông thua thì sao?
– Tao thua thì thanh kiếm này của mày.
Tôi suýt kêu lên. Ông già không nhìn tôi.
– Nhưng tao xin một nén nhang, – ông nói. – Để mài con dao.
Út Sả thắp một nén nhang, cắm vào bát hương trên bàn thờ, ngay cạnh cái bát sứt. Ông già lấy con dao phay, rồi lục trong túi áo trong ra một viên đá. Viên đá dài bằng bàn tay, dẹt, màu xanh xám như rêu, một mặt đã lõm xuống thành hình lòng thuyền vì mài lâu năm. Tôi đi theo ông sáu ngày rồi mà không biết ông có viên đá ấy.
Ông ngồi xổm bên cái lu nước ở góc quán, đặt viên đá lên một miếng gỗ, vốc nước vẩy lên mặt đá.
Rồi ông mài.
Tôi đã từng thấy người ta mài dao. Ở bến Vũng Sò có ông thợ mài dạo, đi rao khắp chợ, mài dao xoèn xoẹt nhanh như đánh trống. Ông già không mài như thế. Ông mài chậm. Rất chậm. Lưỡi dao nghiêng một góc nhỏ trên mặt đá, đẩy đi, kéo về, đều như tiếng thở của người ngủ. Thỉnh thoảng ông dừng lại, vẩy nước, nghiêng con dao lên ánh sáng nhìn mép lưỡi, rồi mài tiếp. Ba lần vẩy nước. Rồi ông lấy trong túi ra một cái lọ sành bé như ngón tay, nhỏ ra mặt đá một giọt dầu. Mài tiếp.
Lúc ấy tôi mới để ý đến hai bàn tay ông. Bình thường hai bàn tay ấy run nhẹ khi cầm bát, khi buộc dây tay nải. Bây giờ chúng không run. Chúng di chuyển như hai con cá trong nước, nhẹ, chắc, không thừa một động tác nào. Mặt ông cũng khác. Mấy nếp nhăn giãn ra. Ông trông trẻ đi mười tuổi.
Nén nhang cháy hết. Ông lau con dao vào vạt áo, đưa cho Út Sả.
– Mày chém. Đừng bổ xuống. Kéo. Như kéo dao cắt bánh tét.
Cả bến đã kéo đến xem. Người lái đò bỏ đò. Mấy bà bán cá ngồi chồm hổm trên bờ. Hai Rắn bước ra trước. Gã vung thanh mã tấu lên, chém một nhát thật mạnh vào sợi dây neo.
Sợi dây xơ dừa ướt nảy lên như một sợi gân. Thanh mã tấu bật trở lại. Trên sợi dây chỉ có một vết lõm, mấy sợi xơ toác ra.
Hai Rắn đỏ mặt, chém nhát nữa. Lại bật. Gã định chém nhát thứ ba thì ông già nói:
– Một nhát thôi. Cá là một nhát.
Út Sả bước ra. Con bé cầm con dao phay đen sì, tay hơi run. Nó nhìn ông già. Ông gật đầu. Nó đặt lưỡi dao lên sợi dây, chỗ ngay cạnh vết lõm của Hai Rắn, rồi kéo một đường, như kéo dao qua đòn bánh tét.
Sợi dây đứt. Không có tiếng gì. Chỉ là một lúc trước nó còn là một sợi, lúc sau nó thành hai đầu dây rơi xuống nước, chiếc ghe đen từ từ trôi ra giữa dòng.
Trên bờ có người bật cười. Rồi cả bến cười. Mấy bà bán cá vỗ đùi đen đét. Bọn đàn em của Hai Rắn phải nhảy xuống nước bơi theo ghe.
Hai Rắn đứng đó, tay cầm mã tấu, nhìn sợi dây đứt. Tôi tưởng gã sẽ nổi điên. Nhưng gã không làm gì cả. Dân sông nước có cái lệ của dân sông nước: cá trước mặt cả bến mà thua thì phải chịu. Thua rồi mà còn quậy thì từ nay không ai trên bến này coi gã ra gì nữa.
Gã tra mã tấu vào vỏ, quay sang ông già, cúi đầu thật nhanh một cái, rồi lội xuống nước đuổi theo ghe.
Tối hôm ấy Út Sả không cho chúng tôi đi. Nó nấu một nồi canh chua cá lóc, đúng món bà nó nấu bốn mươi năm trước, và một chảo cơm cháy giòn rụm chan mỡ hành. Nó ngồi bên bếp, xoay xoay con dao phay trong tay, nhìn mép lưỡi sáng lên một đường mảnh như sợi tóc.
– Ông dạy con mài được không?
– Không, – ông già nói.
– Sao không?
– Vì mày mài được rồi thì bọn Rắn Nước lại tưởng mày có phép. – Ông cười. – Cứ để nó tưởng là phép của ông Khuất. Ông Khuất đi rồi, nó còn sợ lâu.
Tôi ngồi gặm cơm cháy, nghĩ mãi một chuyện. Ông đã không rút kiếm. Lần thứ hai. Ở bến cá, tôi tưởng cao thủ không thèm rút kiếm trước bọn tép riu. Bây giờ tôi biết vì sao. Nửa thanh kiếm gãy trong vỏ thì rút ra làm gì.
Nhưng ông biết mài. Ông mài một con dao phay thành con dao cắt được dây neo. Một kiếm khách lừng danh như Khuất Vân Phong, sao lại mài dao giỏi hơn cả ông thợ mài dạo ở chợ cá Vũng Sò?
Tôi định hỏi. Rồi tôi thôi. Tôi sợ hỏi xong thì ông đuổi tôi về.
Nửa đêm tôi thức dậy vì tiếng ho. Ông ngồi ở mé bến, sau quán, quay lưng về phía tôi, nhìn ra sông. Ông ho từng tràng dài, khan, như có ai đang cào trong ngực ông. Tôi bước ra, định hỏi ông có cần nước không.
Ông giật mình, vội gấp cái khăn trong tay lại, nhét vào ngực áo. Nhưng tôi đã kịp thấy. Dưới ánh trăng, trên miếng vải trắng, có một vệt sẫm màu, to bằng đồng xu.
– Ông…
– Gió sông, – ông nói. – Đi ngủ đi. Mai dậy sớm. Còn bốn mươi bảy ngày nữa là Đoan Ngọ.
— Hết chương 2 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe