AI Truyện
Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong

🏯 Cổ đại & cung đấu

Ba nước một dầu

Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong · Chương 7/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Ba nước một dầu

– Đừng đè. Mày đè là mày mài, không phải đá mài. Để cho đá nó ăn.

Ông già nằm trên cái xe cút kít, lưng dựa vào một bó rơm, nói bằng giọng chỉ còn một nửa hơi. Tôi ngồi xổm bên vệ đường, trước mặt là viên đá mài xanh đặt trên một hòn đá phẳng, trong tay là con dao rựa cùn của Lương Cán. Tôi đã mài nó được nửa canh giờ. Mép lưỡi vẫn cùn như mép cái bát.

Chúng tôi đang ở giữa cao nguyên Gió, ngày thứ bảy sau khi rời bến Sậy Đen.

Ông già sốt bốn ngày ở bến Sậy Đen. Bà vợ ông lái đò nấu cho ông nồi nước lá xông, rồi nồi cháo hành tía tô. Lương Cán chạy sang làng bên kia sông mời được một ông thầy lang râu bạc, ông ấy bắt mạch, bốc thuốc, rồi kéo Lương Cán ra ngoài nói gì đó rất lâu. Lương Cán quay vào, không nói gì với tôi, chỉ đi mượn một cái xe cút kít của nhà lái đò, đổ rơm vào, đặt ông già lên.

– Tôi đẩy, – anh ta bảo. – Mày tay què, đẩy không nổi.

Ngày thứ năm, ông già hết sốt, ngồi dậy được. Chúng tôi lên đường.

Cao nguyên Gió không giống bất cứ chỗ nào tôi từng đi qua. Không có cây cao, chỉ có cỏ tranh, cỏ may, những bụi sim mua lúp xúp, và những tảng đá xám nằm rải rác như đàn trâu ngủ. Gió ở đây thổi từ phía tây sang, nóng và khô, thổi suốt ngày không nghỉ. Người dân gọi nó là gió Lào. Nó làm môi nứt, mắt cay, cổ họng rát như nuốt cát. Đêm thì lạnh đến mức phải đốt lửa.

Ông già bắt đầu dạy tôi mài vào buổi chiều thứ hai trên cao nguyên. Không ai nhờ ông. Ông chỉ bảo tôi lấy viên đá xanh ra, lấy con dao rựa của Lương Cán, rồi nằm trên xe chỉ.

– Ba nước một dầu, – ông nói. – Nước để mài thô, ba lần, mỗi lần vẩy cho ướt mặt đá rồi mài đến khi khô. Dầu để mài tinh, một lần, một giọt thôi. Mài thô mà không đủ thì lưỡi mỏng mà giòn. Mài tinh mà không đủ thì lưỡi sắc mà nhanh cùn.

Tôi vẩy nước. Tôi mài. Tôi đè.

– Lại đè.

Tôi nhấc tay nhẹ lên. Con dao trượt khỏi mặt đá, suýt cắt vào ngón tay tôi.

– Nhẹ, chứ không phải buông. – Ông già cười khục khục, rồi ho. – Như cầm con chim sẻ. Nắm chặt thì nó chết. Thả lỏng thì nó bay.

Lương Cán ngồi trên một tảng đá gần đó, nhai một cọng cỏ, nhìn tôi mài, lâu lâu lắc đầu.

Đến chiều thứ tư thì tôi mài được. Không phải mài giỏi. Chỉ là mài được, lưỡi rựa sáng lên một đường mảnh, cắt được một sợi dây gai mà không phải cưa đi cưa lại. Lương Cán cầm con rựa lên, chặt thử một cành sim. Cành sim rơi xuống.

– Được, – anh ta nói. – Cũng được.

Ông già nằm trên xe, nhắm mắt, nhưng tôi thấy khóe miệng ông nhếch lên.

Tối hôm ấy, chúng tôi cắm trại dưới một tảng đá lớn chắn gió. Lương Cán đi tìm củi. Tôi ngồi bên ông già, ngón tay cái phải của tôi rộp lên một cái bọng nước to bằng hạt đậu, ở đúng đốt trong, chỗ đè lên sống dao.

– Chỗ ấy sau thành chai, – ông già nói, nhìn ngón tay tôi. – Ba năm thì cứng như sừng.

Tôi nhìn ngón tay cái của ông. Rồi nhìn ngón tay mình.

– Ông theo ông Khuất bao lâu?

– Bốn mươi năm. Từ năm tao mười lăm tuổi. Như mày bây giờ. – Ông nhìn lửa. – Tao là con một ông thợ rèn ở làng Lò Than. Ông Khuất đi ngang qua, mang thanh kiếm đến nhờ cha tao sửa. Cha tao sửa không được. Tao sửa được. Ông ấy bảo tao đi theo. Thế là đi.

– Bốn mươi năm ông chỉ mài kiếm cho ông ấy?

– Mài kiếm, nấu cơm, giặt áo, cầm đèn cho ông ấy chém nến. – Ông cười. – Ông ấy nổi tiếng thì tao cũng vui. Người ta khen kiếm ông ấy sắc thì tao vui hơn.

Tôi nghĩ đến chữ “đêm trước trận ấy” mà ông bỏ dở ở bến Sậy Đen.

– Đêm trước trận ở Lũng Châu, – tôi nói, – ông định kể gì?

Ông già im lặng rất lâu. Gió Lào vẫn thổi qua đầu tảng đá, rít lên những tiếng dài.

– Đêm ấy tao làm hỏng một việc, – ông nói. – Một việc mà tao chưa nói với ai. Kể cả ông ấy. Ông ấy chết mà không biết.

– Việc gì?

– Mày đừng hỏi. – Ông quay đi. – Tao sẽ nói. Nhưng không phải nói với mày. Người đầu tiên phải nghe là Phí Trầm Sa.

Lương Cán ôm củi về, đứng ở rìa ánh lửa, nhìn ông già. Tôi đoán anh ta đã nghe được câu cuối. Anh ta không hỏi. Anh ta ngồi xuống, bỏ củi vào lửa, rồi lôi trong túi ra một gói xôi lạc, chia làm ba.

Hôm sau, ở một vũng nước giữa cao nguyên, chúng tôi gặp một đoàn ngựa thồ đi ngược lên. Mười mấy con ngựa, chở lều bạt, chở rượu, chở cả mấy cái hòm khóa đồng. Người đi trong đoàn mặc áo lụa, đội nón dứa, nói giọng Lũng Châu. Họ đi xem trận đấu.

Một người trong đoàn nhìn thấy thanh kiếm vỏ da cá đuối dựng trên xe cút kít, rồi nhìn ông già nằm trên rơm, mặt xám ngoét, tóc bết mồ hôi. Hắn huých người bên cạnh, rồi cả đám cùng nhìn.

– Kia kìa. Khuất Vân Phong đấy.

– Khuất Vân Phong đi xe cút kít!

Cả đoàn cười rộ lên. Một gã béo ngồi trên lưng ngựa móc túi, ném xuống chân xe một nắm tiền đồng, tiền rơi lách cách trên đá.

– Tiền thuốc đấy, ông Khuất! Cố mà sống tới Đoan Ngọ, tôi đặt cửa ông tới!

Lương Cán nắm chặt cán xe, mặt đỏ tía. Tôi thấy anh ta sắp buông xe ra. Ông già trên xe nói khẽ, không mở mắt:

– Mạt. Nhặt lên.

– Ông!

– Nhặt lên. Tiền thì không có lỗi. Thằng ném nó mới có lỗi.

Tôi cúi xuống nhặt từng đồng, đếm được mười bảy đồng. Đoàn ngựa thồ đi khuất sau một mỏm đá, tiếng cười vẫn còn vọng lại. Hai ngày sau, ở một bản nhỏ ven đường, tôi dùng mười bảy đồng ấy mua cho ông một thang thuốc ho, một nắm gừng và nửa cân gạo nếp. Ông uống thuốc, nhăn mặt, bảo đắng như mật cá trắm, nhưng đêm ấy ông ho ít hẳn.

Mười ngày nữa thì chúng tôi tới ải Hạ Quan.

Ải nằm giữa hai ngọn núi đá vôi dựng đứng như hai cánh cửa. Giữa hai cánh cửa ấy là một cổng đá cổ, cao bằng năm người đứng chồng lên nhau, trên cổng có một cái chòi gác lợp ngói đã sụp mất một nửa. Ngày xưa nơi đây có lính đóng, giữ con đường đi sang nước bên kia. Bây giờ chỉ còn một thị trấn nhỏ dưới chân ải, có một cái chợ phiên năm ngày họp một lần, bán ngựa thồ, muối, thảo quả, da thú, chè búp.

Thị trấn nhỏ ấy, ba ngày trước Đoan Ngọ, đông như ngày hội.

Người từ Lũng Châu lên, người từ các phủ xung quanh tới, người ở tận bến Vũng Sò cũng có. Quán trọ chật kín, người ta ngủ cả dưới hiên chợ. Các sòng cược dựng lán ngay dưới chân cổng đá. Người ta bán cả tranh vẽ Khuất Vân Phong áo trắng như mây, mắt như sao, vẽ trên giấy dó, ba đồng một tấm.

Lương Cán thuê được một gian chái của một nhà bán ngựa cuối thị trấn, mất năm đồng một đêm, gấp mười giá thường. Ông già nằm trên cái chõng tre, nhìn lên mái tranh, im lặng.

Chiều ngày mồng ba tháng Năm, có người đến tìm.

Đó là một người đàn ông chừng ba mươi lăm tuổi, cao, gầy, mặc áo dài đen, đeo một thanh kiếm có tua đỏ. Mặt anh ta đẹp, góc cạnh, nhưng đôi mắt thì lạnh như mắt cá chết. Anh ta đứng ở cửa, không bước vào, nhìn ông già nằm trên chõng.

– Tôi là Ứng Thạch, đệ tử của Phí Trầm Sa.

Ông già chống tay ngồi dậy.

– Thầy cậu khỏe không?

– Thầy tôi sáu mươi tám tuổi, mắt trái đã mờ, nhưng kiếm vẫn còn. – Ứng Thạch nói, giọng đều và lạnh. – Thầy tôi sai tôi xuống nói ba điều. Thứ nhất, giờ Ngọ ngày mồng năm, ngay dưới cổng ải. Thứ hai, lần này không có ai làm chứng ngồi xử, không có ai được hô dừng. Hai mươi năm trước thầy tôi đã dừng một lần rồi.

– Điều thứ ba?

Ứng Thạch nhìn thanh kiếm dựng bên chõng, cái vỏ da cá đuối đã sờn.

– Thứ ba, – anh ta nói, – thầy tôi bảo mang kiếm thật. Lần này đánh đến cùng.

Lương Cán đứng bật dậy. Ứng Thạch không thèm nhìn anh ta. Anh ta cúi chào ông già một cái rất nhẹ, đúng phép, rồi quay đi. Đi được mấy bước, anh ta dừng lại, nói qua vai:

– Thiên hạ đặt cược cả mấy nghìn lạng bạc vào trận này, ông Khuất. Ông đến được tận đây là giỏi rồi. Ngày mốt đừng để người ta thất vọng.

Lương Cán đứng ở cửa nhìn theo cho đến khi cái áo đen khuất sau dãy lán cược.

– Ông không đánh được, – anh ta nói, không quay lại. – Tôi biết. Thằng nhỏ biết. Bà Thược ở Lũng Châu biết. Để tôi lên gặp lão Phí, nói thật với lão ông là ai. Lão là người có tiếng, lão không chém một ông già mài dao.

– Không, – ông già nói.

– Sao không?

– Vì người nói thật với Phí Trầm Sa phải là tao. Nói qua miệng người khác thì thành chuyện kể.

Lương Cán quay lại nhìn ông rất lâu, rồi ngồi phịch xuống bậc cửa, không nói gì nữa.

Đêm ấy, khi Lương Cán đã ngủ, ông già gọi tôi lại bên chõng.

– Đưa tao viên đá.

Tôi đưa viên đá xanh. Rồi ông bảo tôi rút thanh kiếm ra khỏi vỏ. Nửa thanh kiếm gãy nằm trên lòng bàn tay tôi, lạnh và nặng, chỗ gãy lởm chởm xỉn màu, một gang tay rưỡi thép đã hai mươi năm không chạm vào đá mài.

Ông vẩy nước lên mặt đá, đặt nửa thanh kiếm lên, rồi mài. Chậm. Đều. Như tiếng thở.

– Lưỡi gãy rồi mài làm gì hả ông? – tôi hỏi khẽ.

Ông không ngẩng lên.

– Để nó sạch, – ông nói. – Ngày mốt nó phải nói thật. Thứ phải nói thật thì phải sạch.

— Hết chương 7 —

Mục lục Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong

  1. 1Thanh kiếm không rút10 phút đọc
  2. 2Cái bát sứt ở bến Rạch Lở10 phút đọc
  3. 3Cây sáo ở làng Vải10 phút đọc
  4. 4Sòng cược thành Lũng Châu9 phút đọc
  5. 5Quán trà bên hồ9 phút đọc
  6. 6Bến Sậy Đen9 phút đọc
  7. 7Ba nước một dầu9 phút đọc
  8. 8Đoan Ngọ ở ải Hạ Quan9 phút đọc
  9. 9Mài một thanh kiếm cho người thắng9 phút đọc

Về truyện này

Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →