Chương 1: Thanh kiếm không rút
– Thằng nhỏ, món thứ ba trong tay nải là cái bát sứt. Mày đem ra chợ bán, được nửa đồng là cùng. Mà người ta sẽ hỏi mày lấy ở đâu.
Tôi đứng sững giữa bến cá Vũng Sò, cái tay nải vải chàm còn ôm trong ngực, chân đã co lên định chạy. Ông già vẫn ngồi trên cái thúng úp ngược ở mé bến, nơi tôi vừa móc được cái tay nải ra khỏi lưng ông. Ông không quay lại. Ông đang ăn một bát cháo cá, húp sùm sụp, như chuyện vừa mất đồ là chuyện của ai khác.
Năm ấy tôi mười lăm tuổi, sống ở bến cá Vũng Sò được tám năm, từ hồi cha tôi đi biển không về. Tôi tên Mạt, như mạt cưa, vì mẹ tôi sinh tôi trong một xưởng cưa ván thuyền. Tôi đã móc túi bao nhiêu người ở cái bến này, tôi không nhớ. Nhưng tôi nhớ chưa có ai nói được món đồ thứ ba trong túi mình là gì khi chưa quay đầu lại.
– Ông… ông nói bậy. – Tôi nói, giọng run. – Ông có thấy đâu.
– Không thấy. Nghe. – Ông húp nốt ngụm cháo. – Mày chạy ba bước, trong tay nải có tiếng sành chạm đồng. Sành là cái bát. Đồng là cái lục lạc. Cái lục lạc thì mày bán được hai đồng, nhưng cũng chẳng ai mua, vì nó không kêu.
Tôi mở tay nải ra. Trong đó có bốn món, gói riêng bằng bốn miếng vải. Một cây sáo trúc cũ, lỗ thổi đã mòn bóng. Một cái hộp gỗ nhỏ khóa bằng một cái chốt đồng. Một cái bát sành men nâu sứt một miếng ở miệng. Và một cái lục lạc đồng xỉn màu, lắc không kêu vì cái hòn bi bên trong đã bị ai nhét giấy cho câm.
Tôi đếm lại. Cái bát nằm thứ ba thật.
Ông già lúc ấy mới quay lại. Ông gầy, lưng hơi còng, tóc bạc búi củ hành, mặc cái áo dài nâu đã bạc màu ở vai. Mặt ông nhăn như một quả táo khô, nhưng hai con mắt thì sáng, sáng một cách khó chịu, như mắt người đang soi một thứ gì đó qua ánh đèn. Trên lưng ông đeo một thanh kiếm dài, vỏ gỗ bọc da cá đuối đã sờn, chuôi quấn dây gai đen.
– Trả đây, – ông nói. – Rồi ngồi xuống ăn bát cháo. Tao trả tiền.
Tôi không hiểu sao lúc ấy mình lại ngồi xuống thật.
Bà bán cháo múc cho tôi một bát. Ông già đếm ra ba đồng. Tôi ăn, mắt vẫn liếc thanh kiếm trên lưng ông. Ở bến Vũng Sò, người đeo kiếm thì có, toàn là tay chân của chủ bến, đeo kiếm như đeo cái điếu cày, cho có. Còn cái vỏ kiếm này thì khác. Nó cũ như một món đồ người ta đã đeo bốn mươi năm và không định tháo ra.
– Ông đi đâu? – tôi hỏi.
– Lên ải Hạ Quan.
Ải Hạ Quan ở tận biên giới phía tây bắc. Người ở bến Vũng Sò chỉ nghe tên, như nghe tên mặt trăng.
– Đi làm gì?
– Đánh nhau.
Tôi suýt sặc cháo. Ông già trông như có thể bị gió biển thổi bay đi trước khi tới được đầu bến.
Lúc ấy thì có tiếng giày đạp lên ván bến. Cả Ngạnh đi tới, sau lưng có bốn đứa đàn em. Cả Ngạnh là chủ bến Vũng Sò, ai bán cá ở đây cũng phải nộp hắn tiền chỗ, ai móc túi ở đây cũng phải nộp hắn một nửa. Tôi cũng nộp. Hắn to như cái chum đựng nước mắm, râu quai nón, bên hông đeo một thanh đao bản to, chuôi bịt bạc, thứ hắn khoe là đồ của một võ quan ngoài kinh thành.
– Thằng Mạt, – hắn nói, nhìn cái tay nải đã nằm lại trên lưng ông già. – Mày làm ăn kiểu gì thế? Móc xong lại trả?
– Dạ… ông ấy biết, anh Cả.
Cả Ngạnh cười hô hố. Rồi hắn quay sang ông già, cúi xuống nhìn thanh kiếm.
– Ông già, ông đeo kiếm vào bến tôi thì phải nộp tiền kiếm. Một đồng một ngày.
– Tao không ở lại đến hết ngày, – ông già nói.
– Thì nộp nửa đồng.
Ông già đặt cái bát cháo xuống, chùi miệng bằng ống tay áo, rồi nói một câu mà về sau cả bến Vũng Sò kể đi kể lại suốt mấy năm.
– Tao là Khuất Vân Phong.
Cả bến im bặt. Bà bán cháo đánh rơi cái muôi. Mấy đứa đàn em của Cả Ngạnh nhìn nhau.
Ở đất này, ai lớn lên mà không nghe kể chuyện Khuất Vân Phong. Kiếm khách một mình chặn mười hai tên cướp biển ở cửa Ngư Lạc. Người một kiếm cắt đôi ngọn nến mà ngọn lửa không tắt. Người đấu với Phí Trầm Sa ở hội võ thành Lũng Châu hai mươi năm trước, trận đấu mà các ông già ở quán rượu bến cá cãi nhau mãi không dứt về chuyện ai thắng ai thua. Trong chuyện kể, Khuất Vân Phong cao lớn, mắt như sao, áo trắng như mây.
Không phải một ông già còng lưng ăn cháo cá trên cái thúng úp.
– Khuất Vân Phong chết rồi, – Cả Ngạnh nói, nhưng giọng hắn không còn chắc như lúc nãy.
– Thì mày cứ coi như tao là ma, – ông già nói. – Ma thì không nộp tiền kiếm.
Cả Ngạnh đỏ mặt. Trước mặt cả bến, hắn không thể lùi. Hắn rút thanh đao bản to ra khỏi vỏ, một tiếng soạt rất kêu, rồi chĩa về phía ông già.
– Khuất Vân Phong thì rút kiếm ra cho tôi xem. Tôi xem xong, tôi không lấy tiền.
Ông già không rút. Ông nhìn thanh đao trong tay Cả Ngạnh. Ông nhìn rất lâu, như ông thợ bạc nhìn một chiếc nhẫn người ta mang đến bán. Rồi ông nói, giọng đều đều:
– Mày mua thanh đao này ở đâu?
– Ông hỏi làm gì?
– Ai bán cho mày thì đi đòi tiền lại đi. Lưỡi nó nứt ngầm ở chỗ tiếp chuôi, nứt từ trong ra, dài chừng một đốt ngón tay. Lúc rèn người ta tôi nước lạnh quá vội. Mày chém mạnh vào cái gì cứng một lần nữa thì nó gãy.
Cả Ngạnh cười to, nhưng tiếng cười hơi lạc.
– Ông bịa.
– Thì mày chém thử. – Ông già hất hàm về phía cái cọc gỗ lim to bằng bắp đùi, cọc buộc thuyền lớn nhất bến. – Chém vào đấy. Gãy thì mày mất một thanh đao. Không gãy thì tao nộp tiền gấp mười.
Cả bến lúc này đã đứng vây kín. Người bán cá bỏ cá. Người gánh nước bỏ gánh. Cả Ngạnh nhìn quanh, rồi nhìn cái cọc. Hắn không còn đường lui.
Hắn vung đao lên, chém một nhát thật mạnh vào cọc lim.
Một tiếng keng chói tai. Rồi một tiếng rắc nhỏ, nhỏ hơn tôi tưởng nhiều. Lưỡi đao cắm vào cọc gỗ sâu chừng hai đốt ngón tay, và đứng lại đó. Cả Ngạnh giật tay về. Chỉ còn cái chuôi bịt bạc trong tay hắn, với một mẩu sắt dài chừng một đốt ngón tay lởm chởm ở đầu.
Không ai nói gì. Tôi nghe tiếng sóng vỗ vào chân bến, tiếng một con mòng biển kêu.
Ông già đứng dậy, phủi đít quần, đeo lại tay nải.
– Thanh đao ấy rèn không tồi, – ông nói với Cả Ngạnh, giọng không có chút nào là chế nhạo. – Chỉ hỏng ở lúc tôi. Mày đem cái lưỡi đến lò rèn đầu chợ, bảo nó hàn lại chuôi, rồi tôi lại bằng dầu, đừng bằng nước. Dùng thêm được mười năm.
Rồi ông bước đi, chậm rãi, về phía con đường đất dẫn ra khỏi phố cảng.
Tôi đứng đó nhìn cái mẩu sắt còn lại trong tay Cả Ngạnh, nhìn lưỡi đao cắm trên cọc lim, nhìn cái lưng còng của ông già đang xa dần. Tôi nghĩ đến tám năm sống ở cái bến này. Tám năm nộp tiền cho Cả Ngạnh. Tám năm ngủ dưới gầm sạp cá.
Rồi tôi chạy theo.
– Ông! Ông Khuất!
Ông không dừng.
– Ông cho con theo. Con… con xin làm đồ đệ.
– Tao không nhận đồ đệ.
– Con mang tay nải cho ông. Ông già rồi, mang nặng, mỏi lưng. Đường lên Hạ Quan xa, ông đi một mình, nhỡ có đứa móc túi…
Ông dừng lại. Ông quay sang nhìn tôi bằng hai con mắt sáng khó chịu ấy.
– Đứa móc túi như mày à?
– Như con, – tôi nói. – Mà con thì biết bọn nó móc kiểu gì.
Lần đầu tiên tôi thấy ông cười. Ông cười không thành tiếng, chỉ có mấy nếp nhăn ở khóe mắt dồn lại.
– Lên Hạ Quan phải đến kịp ngày Đoan Ngọ. Hôm nay mười hai tháng Ba. Một nghìn hai trăm dặm. Mày đi bộ được không?
– Con chạy được.
– Không ai bảo mày chạy. – Ông lại bước đi. – Theo thì theo. Mất món nào trong tay nải thì tao đánh.
Thế là tôi theo ông Khuất Vân Phong ra khỏi bến cá Vũng Sò, mang trên lưng cái tay nải bốn món đồ, mà tôi còn không biết để làm gì.
Đi đến trưa thì tôi hỏi.
– Bốn món này là gì hả ông?
– Nợ.
– Nợ gì?
– Bốn món nợ. – Ông nói, mắt nhìn con đường đất đỏ chạy dài trước mặt. – Mỗi món một người. Ba món trả dọc đường, món cuối trả ở Hạ Quan.
– Ông nợ người ta cái bát sứt à?
– Không phải nợ cái bát. Nợ cái người đã múc cơm vào cái bát ấy.
Tôi không hiểu. Tôi cũng không hỏi nữa. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đến chuyện sẽ được học kiếm. Tôi nghĩ đến cái cảnh mình đứng giữa bến Vũng Sò, Cả Ngạnh chĩa đao vào mặt, và tôi chỉ cần nói một câu, nhìn một cái, là đao của hắn gãy làm đôi.
Đêm đầu tiên, chúng tôi ngủ trong một cái miếu thổ địa đổ nát bên đường, cách Vũng Sò ba mươi dặm. Ông nằm trên cái chiếu cói trải sát bệ thờ, thanh kiếm đặt bên cạnh, tay đặt hờ lên vỏ. Ông ho mấy tiếng, khan và dài, rồi ngủ.
Tôi nằm ở góc miếu, không ngủ được. Tôi nhìn thanh kiếm. Trong ánh trăng lọt qua mái ngói vỡ, cái vỏ da cá đuối ánh lên lấm tấm như vảy rắn.
Khuất Vân Phong. Thanh kiếm cắt đôi ngọn nến mà lửa không tắt.
Ông đã không rút nó ra ở bến cá. Cả Ngạnh chĩa đao vào mặt ông, cả bến đứng xem, mà ông không rút. Lúc ấy tôi nghĩ đó là vì cao thủ không cần rút kiếm trước bọn tép riu. Nhưng giờ, nằm trong cái miếu tối, tôi bắt đầu thèm được nhìn nó một lần. Chỉ một lần.
Tôi bò lại gần. Ông ngủ say, hơi thở có tiếng rít nhẹ. Tay ông đã trượt khỏi vỏ kiếm, buông thõng trên chiếu. Tôi là thằng móc túi giỏi nhất bến Vũng Sò. Rút một thanh kiếm ra khỏi vỏ mà không làm người ngủ thức thì có khó gì.
Tôi nắm lấy chuôi, rút nhẹ. Lưỡi kiếm trượt ra, êm, không một tiếng động.
Nó dài chừng một gang tay rưỡi. Rồi hết.
Tôi rút thêm. Không có gì nữa. Phần còn lại của vỏ kiếm, dài hơn hai gang tay, trống rỗng, chỉ có một nắm vải cũ nhét vào cho chặt.
Tôi ngồi đó, trong cái miếu đổ, cầm trên tay nửa thanh kiếm gãy. Chỗ gãy lởm chởm, đã xỉn màu. Nó gãy từ lâu lắm rồi.
Từ phía bệ thờ, ông già lên tiếng, không mở mắt.
– Cắm lại vào vỏ. Cắm cho thẳng. Mày làm mẻ thêm một chỗ nữa thì tao đánh thật.
— Hết chương 1 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe