AI Truyện
Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong

🏯 Cổ đại & cung đấu

Sòng cược thành Lũng Châu

Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong · Chương 4/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Sòng cược thành Lũng Châu

– Một ăn ba cửa Khuất tới! Một ăn hai cửa Phí thắng! Cửa Khuất không tới, một ăn một, ai đặt nhanh còn chỗ!

Thằng hồ lì đứng trên cái ghế đẩu trước cửa sòng hét đến khản cổ. Trước mặt nó, người chen nhau thành một đám đen kịt, tay giơ những xâu tiền, những nén bạc, có người giơ cả một cái vòng vàng. Tôi đứng ở rìa đám đông, ôm cái tay nải trước ngực, cánh tay trái vẫn còn nẹp tre, nghe tên ông già của mình được rao như rao giá cá.

Thành Lũng Châu là thành lớn nhất tôi từng thấy. Nó nằm ở chỗ hai con sông gặp nhau, tường thành xây đá ong, cổng thành cao bằng ba cây cau. Phố xá chật như nêm, hàng nào phố nấy, phố Hàng Đồng gõ chan chát, phố Hàng Thuốc thơm mùi quế với cam thảo, phố Hàng Bánh bày bánh gai, bánh khảo, bánh cốm xanh lá. Giữa thành có một cái hồ rộng, nước xanh như ngọc, quanh hồ là quán trà, tửu lầu, và sòng bạc.

Hai mươi năm trước, chính ở cái thành này, trên lôi đài dựng bên bờ hồ, Khuất Vân Phong đã đấu với Phí Trầm Sa.

Chúng tôi vào thành sáng ngày thứ hai mươi lăm của chuyến đi. Đến trưa thì cả thành đã biết. Tôi không biết tin từ đâu ra, từ bọn Rắn Nước, từ làng Vải, hay từ chính cái bến Vũng Sò. Chỉ biết đi đến đâu cũng nghe người ta nói. Ở quán bún chả đầu phố, ở bến đò ngang, ở cổng chùa. Khuất Vân Phong chưa chết. Khuất Vân Phong lên Hạ Quan. Đoan Ngọ năm nay, hai mươi năm đúng hẹn.

– Ông ơi, người ta cá cược ông kìa, – tôi nói khẽ.

– Thì kệ người ta. – Ông già đi chậm qua đám đông, nón lá kéo sụp xuống mặt. – Tiền của người ta.

Đúng lúc ấy tôi thấy cái tay.

Một bàn tay nhỏ, nhanh, thò từ phía sau lưng ông già, nhắm vào cái túi vải đeo bên hông ông, chỗ ông để viên đá mài và mấy đồng bạc cuối cùng. Tôi biết cái kiểu thò tay ấy. Tôi đã thò tay như thế hàng nghìn lần. Ngón trỏ và ngón giữa khép lại như cái kẹp, ngón cái giữ lấy dây túi. Một đứa khác sẽ va vào người ông ở phía trước cho ông mất chú ý.

Đứa phía trước va vào ông thật. Một con bé chừng mười hai tuổi, ôm một rổ hoa sen, đâm sầm vào bụng ông, rổ hoa đổ tung.

– Ối, cháu xin lỗi ông!

Tôi không chờ. Tay phải tôi chụp lấy cổ tay đứa phía sau ngay lúc hai ngón tay nó vừa kẹp được dây túi. Tôi bẻ ngược nhẹ, đúng chỗ, đủ để nó buông ra mà không gãy. Đó là thằng bé chừng mười ba tuổi, gầy nhom, mắt láo liên như mắt chuột.

– Kẹp hai ngón thì phải xoay cổ tay ra ngoài, – tôi nói khẽ vào tai nó. – Mày xoay vào trong, túi nó vướng thắt lưng, đứa nào đứng gần cũng thấy.

Thằng bé trợn mắt nhìn tôi. Rồi nó giật tay ra, chạy biến vào đám đông, con bé bán hoa chạy theo, bỏ lại cả rổ sen.

Ông già nhìn tôi, rồi nhìn cái túi vẫn còn nguyên bên hông mình.

– Mày học cái đó ở đâu?

– Ở bến Vũng Sò. Tám năm, ông ạ. – Tôi nhặt mấy bông sen lên, bỏ vào rổ. – Con không học được kiếm, thì ít ra con cũng biết giữ túi cho ông.

Ông không nói gì. Nhưng tôi thấy khóe mắt ông nhăn lại, cái kiểu cười không thành tiếng của ông.

Chiều hôm ấy, có người đến tìm chúng tôi ở quán trọ.

Người ấy mặc áo gấm màu lam, béo, trắng, đôi mắt híp lại như hai sợi chỉ, ngón tay đeo ba chiếc nhẫn. Hai gã to con đứng sau lưng. Hắn tự xưng là Hồ Ngũ, người trong thành gọi là Hồ lão Ngũ, chủ sòng cược bên hồ, mời ông Khuất Vân Phong sang tửu lầu Vọng Hồ dùng bữa.

Ông già đi. Tôi đi theo, ôm tay nải.

Tửu lầu Vọng Hồ có ba tầng, tầng trên cùng nhìn ra cả mặt hồ. Hồ lão Ngũ bày một mâm đủ cả gà luộc lá chanh, chả cá lăng, canh măng, rượu sen ủ trong bình sứ. Tôi chưa bao giờ thấy nhiều đồ ăn như thế trên một cái mâm. Ông già chỉ ăn một bát cơm với canh. Tôi thì ăn hết nửa con gà, tay trái nẹp tre để trên đùi, tay phải xé.

– Thành Lũng Châu này, – Hồ lão Ngũ nói, rót rượu, – đã nhận cược cho trận của ông với Phí Trầm Sa bốn nghìn lạng bạc. Sòng của tôi nhận một nửa. Ông biết người ta đặt cửa nào nhiều nhất không?

– Không biết.

– Cửa ông tới. – Hắn cười. – Hai mươi năm nay ai cũng tiếc trận ấy. Giờ nghe ông sống lại, ai cũng muốn tin. Người ta đặt ông tới, một ăn ba. Nếu ông tới Hạ Quan đúng ngày Đoan Ngọ, sòng của tôi phải trả ba nghìn lạng.

Ông già đặt đũa xuống.

– Ra thế.

– Tôi là người buôn bán. – Hồ lão Ngũ đẩy về phía ông một cái hộp sơn đỏ. – Hai trăm lạng. Ông quay về Vũng Sò, ăn cơm cá, ngủ yên. Không ai biết. Người ta sẽ nói ông già rồi, đi không nổi. Có gì xấu đâu.

Tôi nhìn cái hộp. Hai trăm lạng. Cả đời tôi ở bến Vũng Sò không thấy nổi một lạng bạc nằm yên trước mặt.

Ông già không mở cái hộp. Ông đẩy nó lại, chỉ một gang tay.

– Tao đi trả nợ, – ông nói. – Không đi bán.

– Trả nợ ai?

– Nợ người ta. Không phải nợ mày.

Hồ lão Ngũ vẫn cười. Hắn cười rất lâu, cái cười của người đã quen nghe chữ không, và biết chữ không thường đổi thành chữ có ở đoạn sau.

– Ông Khuất, đường từ đây lên Hạ Quan còn năm trăm dặm. Qua bến Sậy Đen, qua cao nguyên gió, đường rừng đường núi. Ông già rồi, lại ho, tôi nghe nói. Đường dài thì nhiều chuyện. – Hắn rót thêm rượu vào chén của ông, dù ông chưa uống ngụm nào. – Tôi chỉ mong ông đi đường bình an.

Ra khỏi tửu lầu, trời đã tối. Đèn lồng treo dọc bờ hồ đỏ rực, in xuống mặt nước thành từng vệt dài. Tôi đi sát ông già, tay nắm chặt quai tay nải.

– Ông, hắn dọa ông đấy.

– Ừ.

– Hắn có người. Hắn có tiền.

– Ừ.

– Thế ông không sợ à?

Ông già dừng lại bên lan can đá, nhìn ra mặt hồ.

– Sợ, – ông nói. – Nhưng sợ không phải là lý do để không đi. Mai còn một món nợ ở đây. Trả xong rồi tính.

– Món nào?

Ông chỉ cái tay nải.

– Cái hộp gỗ.

Ông chưa đi ngay. Ông đứng nhìn một khoảng bờ hồ phía dưới tửu lầu, nơi có một cái nền đá vuông vức, rêu phủ kín, cỏ mọc lởm chởm qua kẽ đá. Trẻ con ban ngày ngồi trên đó câu cá rô.

– Lôi đài cũ, – ông nói. – Hai mươi năm trước dựng ở đấy.

– Ông đánh với Phí Trầm Sa ở đấy à?

Ông im một lúc.

– Đánh đến chiêu thứ chín thì kiếm gãy. Gãy ngang, nửa lưỡi văng xuống hồ. Cả bờ hồ ồ lên. Phí Trầm Sa không đánh tiếp. Hắn tra kiếm vào vỏ, bảo trận này chưa xong, hai mươi năm nữa, Đoan Ngọ, ải Hạ Quan, mang kiếm khác đến. Rồi hắn tháo cái lục lạc trên cổ ngựa của hắn, nhét vào đó một mẩu giấy cho nó câm, đưa sang. Hắn bảo khi nào sẵn sàng thì cứ mang cái lục lạc ấy lên trả, hắn sẽ biết.

Tôi nghĩ đến cái lục lạc đồng xỉn màu trong tay nải, lắc không kêu.

– Trong giấy viết gì hả ông?

– Không ai đọc, – ông nói. – Người nhận nó không đọc. Hai mươi năm. Bảo là hắn viết gì thì cũng là thương hại.

Tôi để ý ông nói “người nhận nó”, không nói “tao”. Lần thứ hai tôi nghe ông nói về Khuất Vân Phong như nói về một người khác. Lần này tôi không nghĩ đó là kiểu nói của người già nữa.

Sáng hôm sau, ông dẫn tôi đi vòng sang bờ bắc của hồ, nơi có một dãy quán trà nhỏ hơn, cũ hơn, cây liễu rủ xuống sát mặt nước. Ông đi chậm, mỗi bước lại chậm hơn bước trước. Tôi tưởng ông mệt. Nhưng không phải. Ông đi như người không muốn đến.

Quán trà cuối dãy có tấm biển gỗ nhỏ treo dưới mái hiên, chữ đã mờ, tôi không đọc được. Trước quán có một chậu hoa thược dược đỏ, nở to bằng cái bát. Trong quán có một bà cụ đang lau bàn.

Bà ấy chừng sáu mươi tuổi, nhỏ người, tóc bạc trắng vấn khăn nhung đen, cái lưng vẫn còn thẳng. Bà mặc áo dài màu gụ, cổ tay đeo một chiếc vòng bạc mỏng. Bà có một khuôn mặt mà tôi đoán hồi trẻ chắc nhiều người đứng dưới gốc liễu này mà ngóng.

– Bà Thược, – ông già nói khẽ, như tự nói với mình.

Ông dừng lại ở bậc cửa. Ông bảo tôi lấy cái hộp gỗ ra. Ông cầm nó bằng cả hai tay, như cầm một bát nước đầy, rồi bước vào.

Bà cụ ngẩng lên. Bà đang bê một khay trà, trên khay có cái ấm đất và bốn cái chén men lam.

– Ông dùng trà gì ạ? Quán có trà sen, trà nhài…

Rồi bà nhìn rõ mặt ông.

Bà đứng im. Không phải cái im của người gặp người quen lâu ngày. Đó là cái im của người đang nhìn một thứ gì đó không thể có thật. Mắt bà đi từ mặt ông xuống thanh kiếm trên lưng, xuống cái hộp gỗ trong tay ông, rồi trở lại mặt ông.

Cái khay trà rơi xuống nền gạch. Ấm đất vỡ toang. Bốn cái chén men lam lăn đi bốn phía, một cái lăn đến tận chân tôi rồi nằm im.

Nước trà nóng bốc hơi trên nền gạch. Bà Thược không nhìn xuống. Bà chỉ nhìn ông già, môi run run, rồi nói một câu, không phải với ông, mà như nói với chính mình:

– Không phải. Không phải anh ấy.

— Hết chương 4 —

Mục lục Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong

  1. 1Thanh kiếm không rút10 phút đọc
  2. 2Cái bát sứt ở bến Rạch Lở10 phút đọc
  3. 3Cây sáo ở làng Vải10 phút đọc
  4. 4Sòng cược thành Lũng Châu9 phút đọc
  5. 5Quán trà bên hồ9 phút đọc
  6. 6Bến Sậy Đen9 phút đọc
  7. 7Ba nước một dầu9 phút đọc
  8. 8Đoan Ngọ ở ải Hạ Quan9 phút đọc
  9. 9Mài một thanh kiếm cho người thắng9 phút đọc

Về truyện này

Nửa thanh kiếm của Khuất Vân Phong là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →