AI Truyện
Những thứ tôi đặt lên Cân Trời

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Hội Thử Cân

Những thứ tôi đặt lên Cân Trời · Chương 8/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 8: Hội Thử Cân

Tôi lên nấc thứ chín của Rèn Xương vào một đêm cuối tháng Sáu, ba tháng trước Hội Thử Cân, ngồi trên bậc đá trước phòng, cạnh cây chè.

Không có gì đặc biệt. Linh khí chảy vào mạch như mọi đêm, chậm, đều. Rồi tới một lúc nó không chảy vào nữa. Như nước đổ đầy chum. Tôi mở mắt, thấy trời đã hửng, thấy cây chè đã ra lứa búp hè, và thấy Khuê ngồi ở bậc dưới, ôm gối, nhìn tôi.

– Đủ rồi à? – Nó hỏi.

– Đủ rồi.

Nó gật đầu, không cười, không chúc mừng. Từ hôm ở chân núi, hai đứa nói chuyện lại, nhưng không như trước. Như hai người đi trên một cây cầu treo mới vá, bước nào cũng dò. Sáng nó vẫn kéo tôi ra bãi đá tập kiếm. Tối nó vẫn ngồi trên bậc thềm. Nhưng nó không kể chuyện phủ Lạng Kiều nữa, và tôi không kể chuyện Khe Lá.

Hội Thử Cân mở vào rằm tháng Tám.

Sân đấu là khoảng sân lát đá trước Tàng Kinh Các, vẽ một vòng tròn bằng vôi trắng. Ra khỏi vòng, hoặc ngã xuống không dậy được trong mười tiếng gõ mõ, hoặc tự xin thua, là thua. Không được dùng binh khí có lưỡi. Ai cũng cầm gậy tre hoặc kiếm gỗ. Ba mươi hai người ghi danh, phần lớn là nội môn, chỉ có sáu người ngoại môn, trong đó có tôi và Khuê.

Chị Xuyến làm trọng tài. Tông môn cần người Rèn Xương lâu năm, tai còn nghe được một bên, mắt tinh, không thiên vị nhà nào. Chị đứng ở mép vòng, tay cầm cái mõ gỗ, mặt lạnh như mọi khi.

Trận đầu, tôi gặp một anh nội môn hai mươi hai tuổi, người to như cột đình. Anh đánh mạnh, mỗi gậy giáng xuống như búa bổ củi. Tôi không đỡ được, chỉ né. Tôi né như người ta đi giữa hai hàng chè: bước ngang, bước chéo, không bao giờ lùi thẳng. Khuê đã dạy tôi bước chân ấy suốt hai năm, mà phải tới lúc ấy tôi mới hiểu nó giống cách đi trên đồi chè. Anh nội môn đánh hụt hơn trăm gậy, thở như kéo bễ. Xương tôi đã rèn, chịu được mấy gậy trúng. Tới gậy thứ một trăm hai mươi, anh ấy trượt chân trên chính mồ hôi mình, ngã ra ngoài vạch vôi.

Trận thứ hai, tôi gặp một cô gái nội môn, nhanh như con chồn. Tôi thua gần hết trận, rồi thắng vì cô ấy giẫm ra vạch lúc lùi lại tránh một cú đánh vụng về của tôi. Chị Xuyến gõ mõ, mặt không đổi sắc, nhưng tôi thấy khóe miệng chị giật giật.

Trận thứ ba, tôi gặp một người ngoại môn dãy thứ nhất, cùng lên núi một năm với tôi, căn tốt. Trận ấy đánh lâu nhất. Tôi không biết mình thắng thế nào. Tôi chỉ nhớ đến cuối, cả hai đứa đều đứng không vững, và cậu ấy ngồi xuống trước, giơ tay xin thua, bảo xương cậu ấy không cứng bằng xương tôi.

Thế là tôi vào bốn người đứng đầu.

Sau trận ấy tôi ngồi bệt ở mép sân, hai tay run không cầm nổi bát nước. Khuê lách qua đám đông tới, ngồi xổm trước mặt tôi, cầm bát nước đưa lên miệng tôi như đút cho trẻ con. Nó không nói gì. Nó nhìn mấy vết bầm trên vai tôi, nhíu mày, rồi lấy trong túi áo ra cái hũ mỡ trăn cũ, cái hũ năm nào nó xin ở nhà bếp, bôi lên. Tôi để nó bôi. Ở hàng ghế trên thềm, tôi biết ông Quỳnh đang nhìn. Tôi để nó bôi.

Khuê cũng thắng ba trận ở nhánh trên. Ba trận của nó không ai phải chờ lâu. Căn nổi lơ lửng như bong bóng, kiếm gỗ trong tay nó nhanh như cái đuôi én. Mỗi trận chưa hết nửa nén nhang.

Hai người còn lại trong bốn là Đàm Thị Lựu, nội môn hai mươi tư tuổi, và Hứa Văn Tiệp, nội môn hai mươi mốt tuổi. Bốn người bốc thăm cặp đấu cuối. Lựu và Tiệp bốc thăm trắng, đấu định thứ ba, thứ tư; Lựu thắng. Tôi và Khuê bốc thăm đỏ: trận định ai đứng đầu. Đứng đầu thì được lên Cân Trời trước, và được chưởng môn đích thân truyền tâm pháp.

Buổi trưa trước trận, Khuê tìm tôi sau Tàng Kinh Các, chỗ có một gốc thông già. Nó ngồi xuống cạnh tôi, không nhìn tôi.

– Tớ sẽ thua. – Nó nói.

– Sao?

– Đứng đầu hay đứng thứ hai thì cũng được lên Cân Trời. Tớ không cần đứng đầu. Cậu thì cần. Cậu căn kém, ngưỡng nặng, cậu cần tâm pháp riêng của chưởng môn hơn tớ.

Tôi nhìn nó. Nó vẫn không nhìn tôi.

– Cậu nhường tớ, – tôi nói, – thì tớ càng không biết cái gì là thật.

Khuê quay lại.

– Bừng...

– Cậu đánh hết sức. – Tôi nói. – Cậu thắng thì cậu thắng. Cậu thua thì cậu thua. Đừng nuôi tớ thêm nữa.

Câu ấy ra khỏi miệng tôi trước khi tôi kịp giữ lại. Khuê nhìn tôi như bị tát. Rồi nó đứng dậy, phủi quần, đi.

Chị Xuyến đi tới khi Khuê vừa khuất sau góc Tàng Kinh Các. Chị ngồi xuống gốc thông, chỗ Khuê vừa ngồi, quay tai phải về phía tôi.

– Tôi nghe hết. – Chị nói. – Tai trái điếc chứ tai phải tôi thính lắm.

– Chị là trọng tài, chị không được nói chuyện với người đấu.

– Tôi không nói chuyện trận đấu. – Chị nói. – Tôi nói chuyện cậu. Câu cuối cậu nói với nó, ác đấy.

Tôi cúi đầu nhìn đám lá thông khô dưới chân.

– Cháu không biết nói thế nào khác.

– Thì đừng nói. – Chị đứng dậy. – Mười mấy năm tôi không đặt thằng Nhì lên cân, vì tôi sợ mất. Cậu thì đang sợ một cái khác. Cậu sợ có mà không biết mình có. Cái ấy còn khổ hơn.

Chị đi ra sân, cầm cái mõ gỗ lên, không quay lại.

Trận cuối bắt đầu khi bóng nắng ngả qua mái Tàng Kinh Các. Cả tông môn đứng quanh sân. Chưởng môn ngồi trên thềm, một ông già râu tóc bạc trắng, bên cạnh là các trưởng lão. Trưởng lão Phí Đăng Quỳnh ngồi ở ghế thứ ba, áo dài đen, tay chống trên đầu gối.

Chị Xuyến gõ mõ.

Khuê đánh hết sức.

Tôi biết ngay từ đường kiếm đầu tiên. Không phải những đường kiếm nó dạy tôi trên bãi đá, chậm, rõ, để tôi nhìn kịp. Đây là kiếm của người căn nổi lơ lửng, nhanh tới mức tôi chỉ thấy một vệt nâu nhạt. Kiếm gỗ quất vào vai tôi, vào sườn, vào đùi. Tôi né được một nửa. Nửa kia tôi chịu. Xương tôi đã rèn, không gãy, nhưng da thịt thì bầm tím.

Tôi không đánh lại được bao nhiêu. Tôi chỉ đi. Đi ngang, đi chéo, như đi giữa hai hàng chè. Bước chân nó dạy tôi.

Và tới một lúc, tôi thấy Khuê đọc được bước chân tôi trước khi tôi bước. Tất nhiên. Nó dạy tôi. Mỗi lần tôi bước ngang, kiếm nó đã chờ sẵn ở đó. Tôi bị dồn dần về phía vạch vôi.

Tôi đổi bước. Tôi không đi như đi giữa hàng chè nữa. Tôi đi như đi trong Thung Lũng Quên: đếm. Một trăm bước một nút cỏ. Trong vòng vôi không có một trăm bước, nên tôi đếm ba. Ba bước, đổi hướng. Không theo thế nào, không theo bài nào. Chỉ theo cái đếm mà bàn tay trái tôi đã quen suốt hai năm. Khuê không đọc được nữa. Nó khựng lại một nhịp.

Một nhịp là đủ. Gậy tre của tôi quét vào cổ chân nó. Nó loạng choạng, chống kiếm xuống đất, không ngã.

Rồi nó cười.

Giữa trận đấu, trước mặt chưởng môn, trước mặt toàn tông, Phí Đăng Khuê đứng thở hổn hển, mồ hôi chảy ròng ròng, và cười. Cái cười giống hệt cái cười hôm đầu tiên trên xe bò, khi nó bẻ đôi gói xôi gấc.

– Cậu học ở đâu cái bước ấy? – Nó hỏi, vẫn thở dốc.

– Ở cậu. Với ở bà tớ.

Nó cười to hơn. Rồi nó lao vào.

Trận ấy kéo dài gần hết một nén nhang. Lúc cuối, cả hai đứa đều không còn sức. Khuê đánh trúng tôi một kiếm vào ngực, tôi lùi ba bước, gót chân chạm vạch vôi. Tôi đứng đó, chới với, nửa bàn chân ở trong, nửa ở ngoài. Khuê không đánh tiếp. Nó đứng nhìn tôi. Nó chỉ cần đẩy nhẹ một cái.

Nó đẩy.

Tôi ngã ra ngoài vòng vôi, nằm ngửa trên mặt đá, nhìn lên bầu trời xanh ngắt mùa thu. Chị Xuyến gõ mõ. Tôi thua.

Khuê ngồi phịch xuống cạnh tôi, ngoài vòng vôi, cũng nằm ngửa ra. Hai đứa nằm cạnh nhau trên mặt đá nóng, thở như hai con trâu vừa cày xong ruộng.

– Cậu không nhường. – Tôi nói.

– Cậu bảo đừng nhường.

– Ừ.

Rồi không hiểu sao, tôi cười. Cười tới đau cả sườn bầm. Khuê cũng cười. Hai đứa nằm đó cười như hai thằng điên, trong khi cả tông môn đứng nhìn, và chị Xuyến đứng ở mép vòng, cái mõ gỗ buông thõng trong tay, quay mặt đi chỗ khác.

Tôi liếc lên thềm. Trưởng lão Phí Đăng Quỳnh vẫn ngồi đó, tay chống đầu gối. Ông không cười. Ông nhìn hai đứa tôi nằm cạnh nhau, như hôm ở cửa Thung Lũng Quên. Rồi ông đứng dậy, đi trước, lên đỉnh núi chuẩn bị cho buổi lễ sáng mai.

Tối ấy, Khuê ra ngồi cạnh cây chè. Tôi ra sau. Trời không trăng, sao dày như vãi gạo. Cây chè đã cao ngang đầu tôi, những búp thu nhú lên ở đầu cành, thơm ngai ngái trong gió đêm.

– Mai tớ lên trước. – Khuê nói. – Cậu lên cuối cùng, sau Lựu với Tiệp. Chú tớ xếp thế.

– Ừ.

– Mai tớ đặt.

Tôi không hỏi đặt gì. Tôi biết. Khuê cũng biết tôi biết.

– Còn cậu? – Nó hỏi. – Cậu đặt gì?

Tôi không trả lời. Tôi không có câu trả lời. Tôi đã nghĩ suốt ba tháng, suốt bốn trận đấu, suốt buổi chiều nằm cười trên mặt đá. Vị chè, tôi đã đặt. Đường về nhà, tôi đã đặt. Thứ nặng nhất còn lại trong tôi là cái thứ đang ngồi cạnh tôi, dưới gốc chè, trong bóng tối.

Tôi đưa tay chạm vào một búp chè non. Lông tơ mềm như lông tơ trên má một đứa trẻ. Năm năm rưỡi. Mỗi sáng một gáo nước. Mỗi đông một ôm rơm. Một mùa hè bắt sâu bằng tay.

Khuê đứng dậy, vào phòng. Tôi ngồi lại một mình với cây chè, cho tới khi gà gáy canh tư.

— Hết chương 8 —

Mục lục Những thứ tôi đặt lên Cân Trời

  1. 1Vị chè8 phút
  2. 2Dãy nhà ngoại môn9 phút đọc
  3. 3Đường về10 phút đọc
  4. 4Thung Lũng Quên10 phút đọc
  5. 5Cái cân con10 phút đọc
  6. 6Nuôi cân9 phút đọc
  7. 7Thư bà9 phút đọc
  8. 8Hội Thử Cân10 phút đọc
  9. 9Đĩa cân của Khuê9 phút đọc
  10. 10Đường về Khe Lá10 phút đọc

Về truyện này

Những thứ tôi đặt lên Cân Trời là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →